Mừng Đông đất khách nhớ Xuân sang,

Kính chúc mọi nhà được b́nh an,

Nợ nước t́nh nhà nhân lễ Tết,

Đem lại an lạc cho dân gian.

 

Tôi nhớ phần đông gia đ́nh Việt Nam đều sống bằng nghề nông, nhứt là ở miền Tây Nam Phần Việt Nam, cho nên sau vụ lúa chánh xong vào khoảng giữa tháng 11 âm lịch hoặc trễ lắm là rằm tháng chạp, kế đến lo trồng hoa màu phụ như : Khoai, bắp, đậu.v.v. cho nên trong dân gian có câu :

Tháng chạp là tháng trồng khoai,

Tháng giêng trồng đậu,

Tháng hai trồng ,

Tháng ba cày vỡ ruộng ra,

Tháng làm mạ, mưa sa đầy đồng...

Quả đúng vậy, quư bà con nhà nông chúng ta ngày xưa, làm việc tùy theo từng mùa, từng tiết, cho nên thường phân chia một năm có bốn mùa rất giản dị chia đều nhau, mỗi mùa có 3 tháng tính theo âm lịch như sau :

- Mùa Xuân bắt đầu mùng một Tết tháng giêng cho đến cuối tháng ba.

- Mùa Hạ từ đầu tháng tư cho đến cuối tháng sáu.

- Mùa Thu từ đầu tháng bảy cho đến cuối tháng chín.

- Mùa Đông từ đầu tháng mười cho đến cuối tháng chạp.

Trong khi đó, đất nước chúng ta thời tiết ở miền Nam không rơ ràng như miền Bắc, mặc dù vậy, cũng tính từng mùa theo năm dương lịch như sau :

-        Mùa Xuân bắt đầu lập Xuân là ngày 5 tháng 2 đến ngày 6 tháng 5, giữa mùa Xuân có ngày 21 tháng 3 th́ đêm và ngày bằng nhau. Đó là ngày Xuân phân.

-        Mùa Hạ bắt đầu lập lập Hạ là ngày 6 tháng 5  đến ngày 8 tháng 8, giữa mùa Hạ có ngày 22 tháng 6 là ngày dài nhứt trong năm. Đó là ngày Hạ Chí.

-        Mùa Thu băt dầu lập Thu là ngày 8 tháng 8 đến  ngày 8 tháng 11, giữa mùa Thu có ngày 23 tháng 9 th́ đêm và ngày bằng nhau. Đó là ngày Thu Phân.

Đối với mùa Thu, ở các nước Âu Châu những chiếc lá thường đổi màu vàng, rồi từ từ rơi rụng trông rất đẹp, tuy nhiên, nếu chúng ta có dịp đến nước Gia Nă Đại (Canada) vào mùa này, th́ sẽ thấy cái màu đỏ thẩm của lá toàn thân cây, tạo thành  một vùng tuyệt đẹp hơn hẳn Âu Châu.

-        Mùa Đông bắt đầu lập Đông là ngày 8 tháng 11 đến ngày 5 tháng 2, giữa mùa Đông có ngày 22 tháng 12 là ngày ngắn nhứt trong năm. Đó là ngày Đông Chí.

 

 

 

Khi nói đến Tết, thường quư bà con đồng hương ḿnh lo từ sau vụ lúa mùa, tức khoảng  giữa tháng chạp, bắt đầu lo xay lúa, xay nếp để chuẩn bị tráng bánh, bánh  tráng th́ tráng ban ngày, nào bánh tráng trắng hay ngọt  có rắc mè để nướng hay ăn sống, bánh tráng mỏng để gói chả gị, làm bánh cuốn... bánh tráng làm bằng bột gạo, thông thường vào khoảng mùng mười, mười một tháng chạp th́ bắt đầu làm. C̣n ban đêm, th́ quết bánh phồng liên hồi, tạo âm thanh vui nhộn, v́ nhà này làm dần công nhà kia, bánh phồng làm bằng nếp. Ngoài ra, các bà nội trợ cũng bắt đầu chọn ngày để làm dưa cải, dưa kiệu, cà rốt, củ cải... để cho kịp chua ăn Tết, cũng như c̣n phải mua sắm quần áo mới cho cả nhà từ mấy tháng trước. Nhà nào có trồng những cây mai trước nhà, cũng chuẩn bị lặt lá mai từ hôm rằm tháng chạp, để nó nở đúng vào dịp Tết, gia đ́nh tôi, Ông Bà nội và song thân tôi có trồng những loại huỳnh mai 5 cánh, bạch mai rồi tứ quư... cho nên vào dịp Tết chúng nó đua nhau nở rộ, các màu vàng, đỏ trắng rất đẹp mắt.

 

 

 

Chiều 23 tháng chạp âm lịch hằng năm, mỗi nhà thường tổ chức lễ tiễn đưa ông bà Táo về chầu trời, để tấu tŕnh mọi việc dưới trần gian cũng như việc trong nhà, ông bà Táo cũng được chủ nhà mua sắm quần áo mới, với con cá chép sống (thông thường mua những loại cá làm bằng giấy do người Hoa làm bán, không biết phong tục này đă có tự bao giờ. Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm Táo Công Một Bà Hai Ông, xin đọc quyển Hạ từ trang 404  đến 405  trong tác phẩm Tử Vi & Địa Lư Thực Hành của Nguyễn Phú Thứ).

Khoảng các ngày 24, 25, 26 Tết, thường các đàn ông con trai làm việc lu bù, nào sơn phết nhà cửa, hàng rào, cửa ngơ, đánh bóng những bộ lư hương bằng đồng, dọn dẹp trang hoàng tủ thờ... Tất cả phải làm thật mới để đón mừng Xuân Tết đến, nhà nào có đất ruộng, th́ lo tát đ́a bắt cá ăn Tết. Hằng năm, ông bà nội và ba má tôi sau khi chọn một cặp cá lóc biết nói (lớn nhứt)  để cúng đất đai vào chiều 30 Tết, đặc biệt đáo lệ hằng năm, cặp cá lóc này chỉ đánh vảy cho thật sạch, mà không chặt kỳ và đuôi để nấu cháo cúng. Riêng các đàn bà, con gái th́ trổ tài làm bánh mứt đủ loại như : Bánh chưng,

bánh tét, bánh ít, bánh kẹp, báng gan, bánh bông lan, bánh in... Mứt th́ cũng có đủ loại mứt như : Khóm, hạt Sen, Me, Măng cầu... thật đủ màu đẹp mắt. Đặc biệt các ông bà cụ già thường đi rảo chợ bông để mua nào là : Vạn Thọ, Mai, Cúc, Thược Dược, Huệ, một vài chậu Thủy Tiên, cành Đào... để đem về tỉa, gọt xén để trồng cho kịp nở hoa đúng vào mùng một Tết. Ngoài ra, c̣n đến mấy chỗ ông thầy đồ, để chọn lựa mua những đôi liễn nào ưng ư đem về dán trước nhà hoặc hai bên bàn thờ hay bàn thông thiên trước sân nhà hoặc là nơi đền miếu cũng được trang hoàng một cách trang trọng, bởi các câu liễn đơn cử ví như sau : 

 

Phước dư Đông Hải - Tứ hải giai huynh đệ - Xuân đáo hoan hỷ - Phúc thọ khang ninh - Công thành danh toại.

 

 

Thịt mở dưa hành câu đối đỏ

Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh...

hoặc là :

 

Tân niên hạnh phúc b́nh an tiến,

Xuân nhật vinh hoa phú quí lai.

 

(Năm mới hạnh phúc b́nh an đến,

Ngày Xuân vinh hoa phú quí về)

 

Địa sanh tài thế nghiệp quang qui,

Thiên thủ phúc gia thanh hiện thái.

 

 

(Đất sanh tài nghiệp đời sáng lạng,

Trời ban phúc nhà tiếng tốt tươi.)

 

Thiên tăng tế nguyệt niên tăng thọ,

Xuân măn càng khôn phúc măn đường.

 

(Trời thêm năm tháng tuổi thêm thọ,

Xuân khắp đất trời phúc khắp nhà.)

 

Môn đa khách đáo thiên tài đáo,

Gia hữu nhân lai vạn vật lai.

 

(Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến,

Nhà có người vào lắm vật vào.)

 

Sơn thủy thanh cao xuân bất tận,

Thần tiên lạc thú cảnh trường sanh.

 

(Phong cảnh thanh cao xuân măi măi,

Thần tiên vui thú cảnh đời đời.)

 

 

 

Khi viết đến đây, tôi lại nhớ nhà thơ Vũ Đ́nh Liên thời xa xưa ở miền Bắc Việt Nam, đă làm bài thơ như sau :

 

 

 

Mỗi năm hoa Đào nở,

Lại thấy ông đồ già,

Bày mực tàu giấy đỏ,

Bên phố đông người qua...

 

 

Ngoài ra, các ông bà cụ già c̣n mua thêm chữ liễn như : Phước, Lộc, Thọ... để về dán vào các trái Dưa Hấu, Bưởi, Dừa... Viết đến đây, tôi nhớ lại người Hoa cũng có phong tục như thế, nhưng lại dán ngược chữ Phước, có ư nghĩa là Phước Đáo (Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm Phước Đáo = Phước Đến, xin đọc quyển Hạ từ trang 410 đến 412 trong tác phẩm  Tử Vi & Địa Lư Thực Hành của Nguyễn Phú Thứ).

Kế đến, sang hàng Trà, để lựa mua các loại trà ngon có danh tiếng như : Trà Sen, Trà Cúc, Trà Lài... để trước cúng ông bà, mừng giao thừa, sau biếu bạn bè hoặc mời khách thưởng xuân.

Sau khi chuẩn bị xong trong nhà, đă có đầy đủ các thứ trái cây như : Dưa Hấu, Vú Sữa, Mảng Cầu, Đu Đủ, Dừa Xiêm, Xoài, Cam, Quưt, Bưởi, Khóm, Chùm Sung...th́ các bà nội trợ bắt đầu chuẩn bị gói bánh Chưng, bánh Tét, bánh Ít...

Theo phong tục Tết, nhà nào không có nồi thịt kho với : trứng Vịt, cá Lóc và nước Dừa tươi, kế đến bánh Chưng, bánh Tét, bánh Ít, cây Nêu trước nhà (ngơ), các đôi Liễn viết bằng mực tàu trên giấy đỏ (hồng điều), mấy phong Pháo để chuẩn bị đốt đón giao thừa và chờ Lân đến múa trước nhà, th́ xem như nhà đó không có ăn Tết, cho nên việc gói bánh Chưng, bánh Tét, bánh Ít là món ăn chánh cổ truyền phong tục Việt nam, các loại bánh này được gói  bằng Vông cho bánh Chưng và bằng lá Chuối  Hột cho bánh Tét hay bánh Ít.

 

 

 

 

(Nhân nhắc đến bánh Ít có dạng h́nh tháp, tôi nhớ ở Việt Nam ḿnh có các loại bánh Ít, xin kể như sau :

- Bánh ít nhưn chuối, bánh ít nhưn đậu, thường gói trong dịp Tết hay đám giỗ chạp để cúng kiến.

- Bánh ít nước tro (bởi v́, nếp ngâm với nước tro trước khi một đêm rồi mới đem xay thành bột, cho nên bánh nó trong vắt, loại bánh này thường thấy trong dịp lễ Thanh Minh).

- Bánh ít lá tre (bởi v́, bánh ít gói bằng lá tre).

- Bánh ít lá gaiB́nh Định có danh tiếng, (bởi v́, phải t́m hái lá gai đem về rửa sạch, phơi cho ráo rồi bỏ vào cối quết chung với bột nếp cho nhuyễn để gói bánh bằng lá Chuối, nhưn bánh mặn th́ có đậu xanh, đen, dừa... đôi khi thêm tôm xào với thịt hoặc bánh ngọt th́ có đậu xanh, đen, dừa và đường tùy địa phương).

 

V́ thế, trong dân gian có câu :

 

Muốn ăn bánh ít lá gai,

Lấy chồng B́nh Định sợ dài đường đi.

 

Ngoài các loại bánh ít phải gói bằng lá Chuối hay lá Tre, c̣n thấy bánh không có gói bằng lá, mà để trần, cho nên có tên là bánh ít trần).

 

 

Bánh Chưng bánh Tét nhưn (nhân)  mặn, th́ được làm bằng thịt heo ba rọi (ba chỉ), đậu xanh bóc vỏ, bao bởi lớp nếp ở ngoài, c̣n bánh Tét nhưn ngọt, thường làm bằng đậu xanh bóc vỏ trộn với  đường  thẻ, ngoài ra c̣n có bánh Tét nhưn chuối xiêm nữa, một đặc điểm đáng lưu ư, nếu chúng ta gói bánh Tét làm bằng nếp sống, khi cột bánh không được cột chặt, v́ để nếp sống nó nở ra là vừa, trái lại nếu cột chặt như gói bánh Tét làm bằng nếp chín th́ nó sẽ bị nín làm cho bánh Tét bị sống. Khi bánh chín quyện lẫn mùi lá thật quyến rủ. Miếng bánh ngon nhứt là miếng bánh ăn ngay khi vừa nấu chín. Tùy gia đ́nh, thường nấu bánh vào đêm 27 hoặc 29 Tết, canh nấu suốt đêm đến sáng mới chín, thời gian phải mất khoảng trên 5 giờ đồng hồ. Bánh chín vớt ra cho ráo nước, rồi mới vội vàng đem biếu cho bà con, họ hàng thân tộc trong gia đ́nh, trong khi bánh c̣n nóng hổi. (Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm Sự Tích Bánh Dày & Bánh Chưng, xin đọc quyển Hạ từ trang 416  đến 418  trong tác phẩm  Tử Vi & Địa Lư Thực Hành của Nguyễn Phú Thứ).

Việc chuẩn bị mừng Xuân đón Tết hằng năm, mọi nhà, không những lo dọn dẹp, sơn phết trong nhà ngoài cửa, mà c̣n phải lo mồ mả ông bà tổ tiên cho thật đẹp, thật mới, thông thường làm cỏ và sơn nước vôi các ngôi mộ, để trong dịp Tết cúng kiến và rước ông bà về cùng ăn Tết.

Về lễ rước ông bà, cúng thần đất đai, th́ tùy theo nơi rước ông bà sớm là chiều ngày 28 thay v́ chiều ngày 30 Tết, phần đông những gia đ́nh theo đạo Phật Giáo Ḥa Hảo ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hậu Giang như : Ômôn, Cao My, Ba Rích... (Cần Thơ) Thốt Nốt (Long Xuyên), Ḥa Hảo (Châu Đốc), Cái Vồn (Vĩnh Long)... thường làm lễ rước ông bà chiều 27 hay 28 Tết (tùy theo tháng thiếu hay đủ)  và đến mùng 1 Tết cúng chay và đến mùng 2 cúng mặn lại. Bữa cơm cúng rước ông bà là một trong những bữa cơm cuối năm ăn ngon nhứt của mọi gia đ́nh sau những ngày chuẩn bị Tết mệt nhọc. Trên bàn thờ ông bà, được đặt chánh giữa nhà, thông thường có bộ lư hương bằng đồng được lau chùi sáng choang, hai bên có chân đèn để cắm cặp đèn cầy số 1 màu đỏ, một cặp dưa hấu hạng nhứt và kèm theo đủ loại trái cây, bánh mứt, hoa quả như : Mảng Cầu, Chùm Sung, Dừa tươi, Đu Đủ, trái Xoài... nếu thiếu một trong mâm ngũ quả, th́ có thể thay thế bằng trái Thơm (Khóm) hay một nải Chuối Cau. Nhưng ít khi nào t́m không đủ ngũ quả này tương trưng : Cầu Sung Vừa (Dừa) Đủ Xài (Xoài). Ngoài ra, một bàn thờ cũng được thiết lập lộ thiên đặt cạnh bàn thông thiên và cây tre làm cây nêu dựng sẵn trước cửa nhà, trên bàn thờ này cũng chuẩn bị nhang đèn hoa quả, mặt quay về hướng chánh Nam, để phù hợp với phong tục xưa là : "Thánh Nhân Nam Diện Nhi Thính Thiên Hạ" để đón giao thừa.

 

 

Riêng bàn thông thiên thường đặt chính giữa trước sân nhà, nếu ai có dịp đến miền Tây Nam phần Việt Nam sẽ thấy, cái bàn thờ lộ thiên này thành lập trên trụ cột cao, ngay vừa tầm mắt, thường có đặt b́nh bông, chung nước, lọ cắm nhang và chân đèn cầy để hằng ngày cúng kiến tất cả các vị Phật, Pháp, Tăng ở cơi mười phương thế giới và tất cả chư vị hiện đang hảnh sự tại cơi ta bà và tây phương nữa, cho nên chữ thông thiên mọi người sẽ nghĩ ngay là thấu trời. Bởi v́, những gia đ́nh có bàn thông thiên, thường theo đạo Phật Giáo Hoà Hảo hay đạo thờ ông bà, hằng ngày sáng chiều sau khi đốt nhang niệm Phật trên bàn thờ Phật hay ông bà tổ tiên trong nhà xong, th́ mới quay mặt để đi thẳng đến bàn thông thiên để khấn nguyện với câu niệm như sau :  " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Phật Tổ, Nam Mô Thập Phương Phật, Nam Mô Thập Phương Pháp, Nam Mô Thập Phương Tăng, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, Trăm Quan Cựu Thần, Chư Vị Sơn Thần, Chư Vị Năm Non Bảy Núi... cảm ứng chứng minh nay con nguyện cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, qui y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo." (tuy nhiên có nhiều người thêm bớt câu niệm này tùy theo căn duyên hay sức khỏe), rồi mới lạy 4 lạy.

Riêng các trẻ con là sung sướng nhứt, khoảng gần xế chiều 30 Tết, th́ được tắm rửa sạch sẽ để thay quần áo mới, xúng xính c̣n thơm mùi vải, c̣n người lớn th́ phải lo đủ thứ kể cả mấy bao gạo, lu nước, hũ muối cũng phải châm cho đầy, c̣n mấy ông bà nghiện trầu cau, thuốc hút cũng phải đi mua cho dủ, v́ ba ngày Tết ít có tiệm nào mở cửa bán.

 

 

 

 

Sau khi làm lễ đón rước ông bà và ăn uống xong, các trẻ con thường đi xem múa Lân hoặc đi từng đoàn từ nhà này qua nhà khác vui chơi và khoe quần áo mới, để chờ giờ đón giao thừa. C̣n người lớn, nhứt là quư bà nội trợ, phải lo nấu nồi chè, nồi nước, hoa quả, cắt bánh Chưng, bánh Tét... để chuẩn bị đón giao thừa đúng 12 giờ đêm 30 hoặc 29 (nếu tháng thiếu) rạng mùng 1 Tết. Boong boong... c̣n hai phút, rồi c̣n một phút, giờ giao thừa đến, th́ đài phát thanh (radio), đài truyền h́nh, Chùa, Đ́nh... thi nhau đánh hồi trống hay chuông, để báo hiệu giờ tống cựu nghinh tân để tiễn đưa năm cũ rước năm mới vào. Thật lạ lùng thay ! Tất cả cảnh vật trở nên nghiêm trang, rất là thiêng liêng, nhà nhà đều cúng lễ gia tiên giao thừa, treo bùa nêu lên đọt cây tre, rồi đốt pháo. Tiếng pháo đ́ đùng vang rền khắp mọi nơi, có người đốt cả phong hoặc lẻ tẻ trước nhà hay kế cận bàn thông thiên hoặc xung quanh nhà để đuổi trừ những cái xui xẻo năm cũ và đón mừng năm mới, với ước mơ hy vọng bước sang năm mới sẽ làm ăn phát đạt hơn, may mắn hơn và nhiều tốt đẹp hơn năm cũ. Sau khi nhang tàn, th́ hạ mâm cỗ xuống để cả nhà cùng quây quần ăn chè, bánh mứt, hoa quả... cùng mừng bước sang năm mới. V́ thế, trong dân gian mới có câu :

Cu kêu ba (1) tiếng Cu kêu,

Trông mau đến Tết dựng nêu ăn chè.

 

(1) Nhân viết tiếng Chim Cu kêu, tôi xin được tŕnh bài thêm về loài chim Cu và tại sao Ông Bà ḿnh không dùng loài chim khác? Bởi v́, loài chim Cu (La tourterelle) là loài lông vũ, có rất nhiều thứ, nhưng thường thấy là thứ nhỏ con, gáy không lớn, thường gọi là Cu Đất, Cu Ngói  (tùy theo màu sắc của nó). C̣n một thứ chim Cu khác, ở lông cổ có hột cườm rất đẹp và gáy tiếng lớn, th́ gọi là Cu Cườm (La tourterelle à collier). Ngoài ra, c̣n có thứ chim Cu có màu xanh lục gọi là Cu Xanh. Người ta nuôi chim Cu để làm mồi để sập bẩy chim Cu khác tức gác cu, cho nên trong ca dao có câu :

 

Ở đời có bốn cái ngu,

Làm mai, lănh nợ, gác cu, cầm chầu.

 

Thông thường con chim Cu nó gáy Cu Cu, nếu có những thứ chim Cu quư, th́ nó gáy được ba tiếng trở nên Rục Cu Cu. Đối với những con con chim Cu gáy được như vậy, người chủ nuôi thường hành diện mà khoe với xóm làng là : Chim nhà tôi nó gáy có hậu ghê.

Điểm đặc biệt của Chim Cu thường hay gáy vào mùa Xuân, cho nên gần Tết mới nghe Cu kêu...

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ có câu :

Cưng như cưng Cu Cu.

Chữ Cu Cu này để chỉ chim Cu, v́ ca dao cũng có câu : 

Cu Cu ăn đậu, ăn mè,

Bồ Câu ăn lúa, Chích Choè ăn khoai...

 

(Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm xin đọc quyển Hạ từ trang 428  đến 431  trong tác phẩm Tử Vi & Địa Lư Thực Hành của Nguyễn Phú Thứ).

Thế nên, phong tục Tết Việt Nam hằng năm, thường mỗi nhà nấu một nồi chè đậu xanh để cúng giao thừa và dựng nêu. Ngoài ra, c̣n cắt (bổ) dưa hấu đầu năm mữa, nếu trái dưa hấu thật đỏ, lại ngọt ḍn, th́ nhà đó tin rằng năm mới sẽ có thời vận tốt cho gia đ́nh suốt năm, c̣n trái lại dưa hấu không đỏ, không ngon ngọt th́ xem như năm mới không được tốt và bị xấu cả năm. Đó là sự dị đoan của phong tục Việt Nam xa xưa. Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm tại sao ông bà ḿnh dùng tiếng gáy của con chim Cu mà không dùng con vật khác? Và tại sao có trái Dưa Hấu ?  (xin quư bà con đồng hương đọc quyển Hạ từ trang 428  đến 435  trong  tác phẩm  Tử Vi & Địa Lư Thực Hành  của Nguyễn Phú Thứ).

C̣n trẻ con sau khi đốt pháo và ăn uống no nê th́ đi ngủ, chỉ c̣n người lớn tuổi  ngồi nhâm nhi bên tách trà xanh để thưởng thức cái yên lặng, cái linh thiêng huyền diệu của đêm trừ tịch với mùi trầm hương quyện lẫn mùi pháo, rồi tưởng nhớ những người thân đă khuất  hay nhắc nhở đến một vài đứa con, đứa cháu trong gia đ́nh v́ đi làm ăn xa hay v́ công việc không thể về chung vui mừng xuân đón Tết bên tổ ấm gia đ́nh.

Có nhiều người hay gia đ́nh, sau khi cúng giao thừa xong v́ tin tưởng vào số tuổi để chọn giờ xuất hành đầu năm cho hạp và làm ăn phát tài năm mới, rồi c̣n chọn hướng đi nơi nào trước, để cúng chùa, cúng đ́nh...hoặc đi hái lộc hay xin xâm đầu năm, để cho biết thời vận trong năm đó. Việc hái lộc thường chọn một cành cây xanh tươi tốt, có nhiều mầm non, tượng trưng cho năm mới được tài lộc sung túc.

Sáng mùng một Tết, th́ thói thường ông bà già hay chủ gia đ́nh thường thức dậy sớm để làm lễ xong đất, nếu các con các cháu có thức sớm hơn cũng không được mở cửa nhà, mà phải chờ đợi người gia trưởng trong gia đ́nh mở cửa, tất cả con cháu trong gia đ́nh phải tề tựu trước bàn thờ để trước làm lễ cúng ông bà tổ tiên đầu năm, sau mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Các con cháu được ĺ x́ bằng những phong b́ màu đỏ, bên trong có tiền mới toanh, c̣n thơm mùi giấy, theo thói thường các con cháu làm tuổi nói như sau : Con kính xin làm tuổi ông bà (hay cha mẹ) sống ba niên giai lăo.

Kể từ mùng một đến mùng ba Tết, mọi người  rất kiêng cử, không được giận hờn, gắt gỏng, la rầy, không tạo chuyện buồn phiền, v́ e rằng sẽ xui cả năm, không được hái trái cây và cũng không được quét nhà đổ rác đi, v́ theo truyền thuyết, khi quét nhà đổ rác, tiền bạc sẽ ra như rác vậy.

Trong ca dao Việt Nam cũng có câu : "Mùng một Tết nhà, mùng hai Tết thầy, mùng ba Tết bạn" Nên tôi dù có bận rộn đi thăm và chúc Tết họ hàng cũng như các thầy cô của tôi vào sáng mùng hai Tết, nhưng xế trưa cũng phải trở về nhà để ông bà nội, ba má và các em đi thăm bà con hoặc đi chơi xa, bởi v́ tôi là đứa cháu đích tôn của ngôi nhà thờ ông bà nội tôi đang ở và sau là để đón tiếp bạn bè hay đồng nghiệp, học tṛ cũ thân quư của tôi.

Đến sáng mùng ba Tết, trên bàn thờ lúc nào cũng được thắp nhang, hương khói nghi ngút, đèn sáng trưng. Mùi trái cây, mùi hương, mùi pháo tất cả ḥa lẫn nhau tạo nên một hương vị đặc biệt của riêng những ngày Tết dân tộc Việt Nam. Những cành Mai, cành Đào trên bàn thờ hay ở góc nhà cùng vài chậu Vạn Thọ, Thược Dượt... đang khoe sắc tỏa ra hương thơm ngào ngạt cũng góp phần tạo nên không khí Tết năm xưa.

Tết là mùa sum hợp, nghỉ ngơi. Đối với bà con ở nông thôn, việc ăn Tết càng quan trọng hơn, v́ trong năm hết làm những vụ lúa mùa, c̣n phải trồng hoa màu phụ, ví như phải canh trồng dưa hấu hay trồng bông hoa hoặc trồng trầu cau... để đón Tết nữa, cho nên công việc nhà nông làm theo từng mùa, từng tiết, quanh năm suốt tháng thật bận rộn, vất vả với công việc đồng áng và đôi khi không được nghỉ ngơi những ngày cuối tuần, như những người làm việc khác ở thành thị hay công chức hoặc trong ngành giáo dục...V́ vậy, trong dịp Tết là cơ hội để nghỉ ngơi, bỏ tất cả mọi công việc để mừng Xuân hưởng Tết, nào là ăn uống linh đ́nh, giải trí, thăm viếng... Tết ở nông thôn vui lắm, có khi kéo dài đến nửa tháng, mới chọn ngày tốt để làm lễ hạ nêu, trong khi dân thành thị th́ trái lại, chỉ ăn Tết nhiều lắm bảy ngày, nhưng thường là ăn Tết đến hết ngày mùng bốn hoặc mùng sáu là hạ nêu và làm lễ khai trương cửa hàng buôn bán, ít ai đầu năm chịu làm lễ khai trương vào ngày mùng năm, bởi v́ ngày mùng năm là ngày lẻ, nên mọi người cho là không tốt. (Nếu quư bà con đồng hương muốn t́m hiểu thêm, xin đọc quyển Hạ từ trang 436  đến 439  trong tác phẩm T́m Hiểu Tử Vi Đẩu Số Và Địa Lư của Nguyễn Phú Thứ).

Mặc dầu đă hết Tết, nhưng cái âm hưởng những ngày Tết vẫn kéo dài đâu đó, trên những gốc mai vàng rực rỡ trước sân nhà, những xác pháo khắp mọi đường đất nước quê hương, trên nụ cười hớn hở của đám trẻ thơ và trên những bàn Bầu, Cua,Cá, Cọp....

 

 

Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ