Chi‰c ñèn Kéo Quân


Picture1 (800 x 600)
Loading
Quang Dương
            

              (Để tưởng nhớ anh tôi, Bùi Quang Minh, sĩ quan Tiểu đoàn 5
                              Quân y, Sư đoàn 5 BB QLVNCH)

Anh Minh hơn tôi sáu tuổi và là con trai trưởng trong nhà, sau chị Vân, là chị cả. Dưới anh là chị Mai, thua anh bốn tuổi, rồi đến tôi. Trong nhà chỉ có chị Vân và anh là được bố mẹ tôi xem như người lớn, còn chị Mai và tôi thì bị coi như hàng trẻ con, ăn chưa no, lo chưa tới, chỉ biết chơi đùa nghịch ngợm. Anh tôi thông minh và lanh lẹ hơn tôi nhiều.  Khi tôi hãy còn là đứa bé lên bảy, lên tám, chỉ biết lê la chạy nhảy với các bạn cùng xóm thì anh đã tỏ ra chững chạc lắm rồi. Sau khi anh thi đậu vào lớp đệ Thất trường Chu Văn An, bố mẹ tôi mua thưởng cho anh chiếc xe đạp “Pơ Giô” để đi học.

Trước đó, mỗi khi cần đi đâu, anh cứ phải dùng cái xe đạp cũ, chạy kêu lách ca lách cách và hay bị tuột xích. Hoặc thì anh chờ chị Vân đi học về để mượn xe. Chị tôi giữ gìn xe của chị rất kỹ. Mỗi lần anh hỏi mượn, chị không cho thì anh nói: “Chị để em chạy xe cho mau cũ đi, rồi mai mốt bố mẹ mua cho chị xe khác đẹp hơn và cho em cái này chứ”. Chị tôi biết cái tính láu lỉnh của anh tôi đã tính không cho mượn, nhưng rồi cũng phải chịu, vì trước sau gì anh cũng sẽ tìm cách lấy xe. Được cái anh cũng hay chở tôi ngồi đằng sau chạy chơi đây đó, và khi về thì bảo tôi lấy giẻ lau xe qua loa, nên chị cũng không phàn nàn gì nhiều. Từ ngày có xe mới, anh không phải mượn xe của chị nữa, nhưng phần tôi thì cũng không khác gì hơn. Tôi vẫn phải làm cái chân lau xe, chỉ khác là được lau và ngồi đằng sau xe mới.  Hai anh em tôi chở nhau trên chiếc xe bóng nhẫy, chạy khắp khu phố, trước những cặp mắt thèm thuồng của đám bạn.

Năm đó, gần tết Trung Thu. Một hôm, anh Minh chở tôi chạy sang tận Chợ Lớn, khu đường Đồng Khánh, để xem những hàng quán bày biện bánh trái, lồng đèn xanh đỏ rất đẹp mắt. Anh tấp xe vào lề đường trước tiệm bánh Trung Thu Đông Hưng Viên. Đây là tiệm bánh nổi tiếng thời bấy giờ, bánh bán rất chạy. Dân thành phố thời đó ưa chuộng hiệu bánh này. Tôi còn nhớ những tên gọi từng loại bánh mà với đầu óc ngây thơ của tôi, tôi chẳng hiểu nghĩa là gì như “Thất Tinh Bôn Nguyệt”, “Trạng Nguyên Dục Nguyệt…”. Ngay khoảng sân trước tiệm là một quầy bán bánh với đủ các loại bánh nướng, bánh dẻo, và có những chú người Hoa đang đứng làm bánh ngay tại chỗ. Với đôi tay thuần thục, các chú nhanh nhẹn bốc từng khoanh nhân bánh đã chuẩn bị sẵn cho từng loại, nhét vào miếng bột đã cán dẹp, bao nhanh lại rồi ấn vào cái khuôn gỗ nhìn như cái chày hình chữ nhật. Sau vài cái nhấn tay cho cục bột chắc chắn đã in vào hết lòng khuôn, chú mới cầm cái khuôn lên lật ngược và đập mạnh xuống. Một cái bánh trắng ngà vuông vức, in hình hai con rồng, rơi ra nằm gọn trên mặt bàn. Chú thợ xếp cái bánh vào khay sắt, trên đó đã có những cái khác nằm chờ, để khi nào bánh đầy khay sẽ được đưa vào lò nướng. Tất cả những động tác trên diễn ra nhanh lắm, chưa đầy một phút đã xong một cái bánh.

Trong lúc tôi đang mải mê xem các chú thợ làm bánh thì anh Minh kéo tay tôi ra, dắt sang tiệm bên cạnh và nói:
- Ra đây xem cái này hay lắm.
Tôi còn đang ngạc nhiên chưa biết chuyện gì, anh đã chỉ tay vào trong tiệm rồi nói:
- Nhìn kìa đèn kéo quân.

Tôi ngước nhìn theo hướng tay anh thì quả thật có một chiếc đèn lồng hình lục giác, khung trắng, vành đỏ, có những dây tua rua kim nhũ ngũ sắc cột rủ mỗi góc, đang treo ở giữa phòng, với những bóng hình chạy vòng quanh in trên lớp lụa trắng mỏng. Đây là một tiệm bán đèn lồng và các đồ vật ưa dùng trong mùa Trung Thu. Bày biện và treo ngổn ngang trong tiệm, ngoài cái đèn kéo quân là những đèn xếp cô tiên, đèn con cá, con phượng, con ngựa, con rồng….lộng giấy bóng kính xanh, đỏ, vàng, rất bắt mắt. Ngoài ra còn có cái đầu lân to tướng đầy màu sắc, với hai con mắt ốc nhồi trợn ra như hai cái bát ăn cơm, và cái mồm ngoác rộng như muốn nuốt chửng người ta.  Thuở đó, đèn kéo quân thường được nhập từ Hồng Kông, và là một món hàng đắt tiền không phải cha mẹ nào cũng có khả năng mua cho con chơi tết Trung Thu. Nó đắt không chỉ vì nó lạ mắt, đẹp dáng, mà còn vì phải tốn nhiều công khó để làm nó nữa. Anh tôi và tôi cùng ngước mặt nhìn chiếc đèn. Những bóng đen hình người và thú in trên lớp vải trắng mờ mờ, bao bọc chung quanh chiếc đèn, đang di chuyển chầm chậm.

- Kìa! Hình con rồng kià, con lân kìa -Anh nói.
- Có hình con cá to kìa. -Tôi xen vào.
- Ừ, cá chép vượt vũ môn đấy. Anh đáp.
- Có hình con công nữa. -Tôi lại nói.
- Không phải, hình con phượng đấy. -Anh sửa sai cho tôi.
- A! Có chị Hằng kìa. -Tôi reo lên.
- Không phải, hình cô tiên đang múa. -Anh đập vào vai tôi.
-Thế có chú Cuội với cây đa và thỏ ngọc không?
- Không, làm gì có chú Cuội ở đây.
- Kià! Ông vua kìa.
- Ông Quan Đế đấy.
- Ông Quan Đế là ông gì?
- À… là ông tướng, ở bên Tàu.

Cứ thế, hai anh em chúng tôi nhìn chiếc đèn không chớp mắt, và trao đổi qua lại những gì chúng tôi thấy. Chợt anh kéo tôi bước tới dưới chiếc đèn và nhìn ngước lên. Tôi nhìn theo thì thấy trong chiếc đèn kéo quân có cái bóng đèn điện đang tỏa sáng, và một cái lồng đang quay. Anh đang lẩm bẩm điều gì, thì vừa lúc một người làm trong tiệm, ý chừng thấy chúng tôi có vẻ chỉ thích nhìn ngắm mà không mua bán gì, nên xấn tới nói:
- Hày, hông mua thì da ngoày choi li.

Anh đắt tay tôi bước ngay ra khỏi cửa hàng, mở khoá, lấy xe bảo tôi leo lên “boọc-ba-ga” chở về. Trên đường về  nhà, hình ảnh chiếc đèn kéo quân cứ hiện ra trong đầu óc tôi. Tôi nói:

- Đèn kéo quân đẹp quá anh nhỉ?
Anh vừa đạp xe vừa đáp nhát gừng:
- Ừ
Tôi lại nói:
- Cái đèn đó đắt không vậy anh?
- Đắt.
Hỏi thì hỏi vậy, và dẫu còn nhỏ tôi cũng biết là đèn kéo quân đắt lắm. Không đắt sao cái đèn lại được cửa tiệm trịnh trọng treo giữa phòng, và chỉ mới đứng nhìn một lúc thôi, người nhà đã muốn đuổi tụi tôi ra, ý chừng sợ anh em chúng tôi làm hỏng rồi không có tiền đền. Một lúc sau tôi lại hỏi:

- Mà sao mấy cái hình nó chạy được vậy anh?
Lần này giọng anh dịu hơn:
- Nó chạy được là vì…à có chong chóng bên trong.
Tôi hãy còn thắc mắc định hỏi tiếp chợt anh nói to:
- Mình sẽ làm một cái đèn kéo quân.
Tôi ngạc nhiên, tưởng tai nghe lầm. Tôi chưa kịp hỏi thì anh lại nói:
- Mình sẽ xin tiền bố mẹ mua tre, mua giấy về làm.
Tôi chưa hết ngạc nhiên hỏi:
- Anh biết làm đèn kéo quân à?
Anh đáp nhanh:
- Chưa biết nhưng rồi sẽ biết.

Vừa lúc đó xe đạp về đến nhà. Anh Minh cất xe rồi chạy nhanh vào phòng khách, tôi lẽo đẽo theo sau. Anh mở ngăn kéo tủ sách lấy ra một xấp báo rồi lật tìm. Tôi tò mò hỏi:
- Anh tìm gì vậy?
Anh không trả lời cứ tiếp tục tìm. Một thoáng sau anh reo lên:
- A! đây rồi.

Tôi ghé mắt nhìn thì ra tờ “Tuổi Xanh”, tạp chí dành cho thiếu nhi. Tờ báo bố tôi thường đem về nhà cho anh chị em tôi đọc. Bố tôi là một nhà giáo. Ông rất khó trong việc học của anh chị em tôi. Ông thường để mắt tới những sách truyện anh chị em chúng tôi đọc ngoài sách học. Riêng tờ “Tuổi Xanh” thì đặc biệt bố tôi là một trong những người sáng lập ra tờ báo, nên không những không ngăn cản, mà còn khuyến khích xem, miễn là đừng bê trễ việc học. Ông nói:” Đây là tờ báo giáo dục và giải trí cho thiếu nhi, do một nhóm nhà văn và nhà giáo chủ trương, nên các con có thể đọc được”. Anh tôi rất thích tờ báo này và luôn giữ lại sau khi đọc xong.Tôi và chị Mai cũng được xem nhưng tôi chỉ thích xem những truyện bằng tranh thôi. Tôi còn nhớ hai nhân vật Vui và Nhè rất buồn cười trong những truyện tranh đó. Anh lật nhanh từng trang rồi lại reo lên:

- Đây rồi!
Tôi thấy trên trang giấy là hàng chữ lớn: “Cách Làm Đèn Kéo Quân”. Dưới đó là những hàng chữ nhỏ hơn và hình ảnh với nhiều chi tiết. Anh ngồi xệp xuống đất đọc chăm chú. À bây giờ thì tôi hiểu. Anh Minh đã đọc tờ báo những ngày trước đây và đã biết trong đó có bài viết chỉ cách làm đèn kéo quân. Có lẽ anh cũng không có ý định làm một chiếc đèn như vậy, cho đến khi anh tình cờ nhìn thấy chiếc đèn kéo quân ở tiệm bán lồng đèn, và vì anh em tôi đã bị xua đuổi bởi nhân viên cửa tiệm do ngắm nhìn đèn hơi lâu.

Khi anh thưa chuyện với bố tôi về ý định làm đèn, bố tôi xem qua bài báo rồi nói:
- Ừ, con cứ làm đi, bố cho tiền mua vật liệu, nhưng nhớ phải lo học bài làm bài trước đã. Vật liệu cần để làm đèn không khó tìm, chỉ là những thứ thường thấy trong nhà, vì mục đích của bài viết là muốn khuyến khích thanh thiếu nhi tự làm lấy đèn kéo quân mà không phải tốn kém gì nhiều.

Anh tôi mừng lắm. Có bố đồng ý lại cho tiền mua vật liệu thì còn gì bằng. Có gì khó hỏi bố, bố còn chỉ cho nữa. Anh bảo tôi:
- Chiều mai mình đi mua vật liệu về làm đèn.
Tôi thắc mắc:
- Mình mua gì vậy anh?
-Thì mua tre, giấy bóng mờ, dây thép nhỡ, dây thép nhỏ, hồ dán. Mấy thứ đó thôi, còn vài cái lặt vặt thì chắc trong nhà có rồi.

Trong tâm trí non nớt của tôi hồi đó tôi không thể nào hình dung ra được là chỉ cần những thứ đơn giản như thế mà làm thành cái đèn kéo quân sao?

Ngày hôm sau, khi đi học về, anh chở tôi đi mua những vật liệu nói trên. Giấy bóng mờ, hồ dán, dây thép thì dễ rồi, mua ở tiệm tạp hoá nào mà chả có. Chỉ có tre, tôi không biết anh sẽ mua ở đâu. Tôi hỏi:
- Mình mua tre ở đâu hả anh?
Anh nói:
- Mua ở Chợ Thiếc.
Tôi hỏi để mà hỏi thôi chứ anh tôi chở đi đâu thì tôi đi đó. Ngày đó tôi có biết Chợ Lớn với Chợ Thiếc là chợ gì. Chỉ biết Chợ Thiếc thì gần nhà hơn Chợ Lớn. Anh lại nói:
- Bây giờ mình sẽ đi Chợ Thiếc mua tre trước, xong mới về tiệm tạp hóa Hồng Phát gần nhà mua giấy bóng mờ, hồ dán và dây thép.

Thế là anh Minh chở tôi sang Chợ Thiếc. Không biết anh dò hỏi ai từ bao giờ mà anh đạp xe đến ngay nhà của một gia đình người Hoa trong con hẻm nhỏ. Căn nhà này đã nhỏ lại tối. Trong nhà, ngoài sân bày la liệt những giỏ cần xé to nhỏ đã và đang đan. Ở một góc nhà bên trong, và dọc theo tường nhà bên phải, là những cây tre to nhỏ dài ngắn đủ cỡ xếp vừa đứng vừa nằm. Một người đàn ông gầy gò, ra dáng chủ nhà, đang xếp những giỏ cần xé đã đan xong vào từng chồng, thấy chúng tôi đến nhưng không ra tiếp, mắt chỉ liếc chừng. Anh tôi bảo tôi giữ xe rồi tiến lại nói:

- Tôi muốn mua tre.
Người chủ nhà gấm gẳng:
- Ỏ lây hông pán che.
Anh tôi lại nói:
- Tôi chỉ mua một cây ngắn thôi. Ông có cây nào cưa dở dang tôi mua giá cao.
Ý chừng ham lợi, người chủ nhà tươi nét mặt, chỉ đống tre đã cắt đôi hoặc xẻ nửa, dài ngắn đủ cỡ nói:
- Ló, nị tói ló lựa li.
Anh tôi chọn một ống tre ngắn, cao chừng bằng đến vai tôi, to bằng gần hai vòng bàn tay của tôi rồi trả tiền. Khi ra xe, anh bảo tôi cầm ống tre nằm kẹp xuôi theo mạn sườn cả hai anh em, hướng ra đằng trước, để một đầu tựa trên “ghi-đông”. Trên đường về tôi hỏi:

- Sao người chủ nhà lúc đầu không chịu bán vậy anh? 
Anh đáp:
- Người Tàu họ không tin mình. Với lại mấy cây tre đó là nguyên liệu để họ đan cần xé. Họ không bán nguyên liệu vì sợ xui.
Tôi lại thắc mắc:
- Tại sao lại xui?
- Ờ… thì cũng như tự mình đập vỡ nồi cơm của mình ấy mà.

Tôi không hiểu tại sao lại xui như đập vỡ nồi cơm nhưng chắc là xui lắm. Không biết anh tôi học những điều đó ở đâu. Hình như cái gì anh cũng biết. Nhưng rồi tôi lại vẫn thắc mắc:

- Vậy sao anh không đến mua ở những tiệm bán tre thôi?
- Mấy tiệm bán tre ở xa lắm. Với lại họ không bán lặt vặt. -Anh đáp.
Về đến gần nhà chúng tôi rẽ vào tiệm Hồng Phát mua giấy bóng mờ, hồ dán và dây thép xong về nhà.

Hôm sau, vừa đi học về anh bảo tôi:
-Thứ Bảy này là tết Trung Thu rồi. Phải bắt đầu ngay đi là vừa.
Anh lấy tờ báo “Tuổi Xanh” ra, lật đến trang có bài dạy làm đèn kéo quân, xem lại rồi nói:
- Mình phải chẻ cây tre ra thành những nan tre to bằng ngón tay út để làm khung đèn.

Nói rồi anh giục tôi chạy đi lấy ống tre vẫn để ở chái nhà từ hôm qua, đem ra sân sau nhà cạnh cái bàn mộc, là nơi bố tôi và anh vẫn thường sửa chữa đồ đạc hư hỏng. Khi tôi quay về, anh đã đứng ở đó tay cầm sẵn con dao phay dày bản của mẹ tôi vẫn dùng để chặt những thức ăn có xương cứng khi làm bếp, và cái chày giã cua đồng. Anh bảo tôi cầm ống tre thẳng đứng, tựa một đầu trên cái thớt đã để sẵn dưới nền gạch, xong kê lưỡi dao vào đầu trên và dùng chày đập một nhát trên sống dao. Lưỡi dao cắm phập xuống đầu ống tre. Anh đập thêm vài nhát nữa, thớ tre phát ra những tiếng kêu tanh tách theo đường dao đi xuống, tẽ ống tre ra làm đôi một cách dễ dàng. Anh nói:

- Bây giờ mình chẻ nửa này ra thành chín cái nan, sáu cái làm khung đứng của đèn và ba nan nữa làm khung hai đầu.
Nói rồi anh làm ngay. Chỉ một thoáng sau chín nan tre đã nằm trên mặt đất. Anh lại nói:
- Em đi lấy con dao nhỏ phụ anh tước cạnh sắc.
Tôi chạy vào bếp tìm con dao nhưng không thấy. Tôi nói vọng ra:
- Em không tìm thấy con dao.
Anh tôi nói vọng vào:
- Nó ở cạnh cái “gác-măng-giê”, chỗ gá dao ấy.

Dáo dác nhìn quanh, tôi vẫn không thấy con dao nhỏ đâu. Quái thật, cái con dao chuôi màu vàng, mà mẹ tôi vẫn thường dùng để gọt khoai, cắt chanh đâu rồi? Đang loay hoay không biết tính sao thì chợt nghe tiếng anh tôi gọi:
- Không cần tìm nữa. Nó đây rồi.
Tôi chạy trở ra, thấy trên tay anh đã cầm con dao nhỏ đưa cho tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Con dao ở đâu vậy anh?
Anh trả lời giọng có vẻ hơi bực:
-Thì nó ở trong buồng chị Vân chứ đâu. Còn nguyên một đống vỏ xoài trên bàn nữa. Biết ngay mà.

Trong lúc anh dùng dao phay rọc đứt những mấu tre ở đốt, tôi dùng dao nhỏ tước những cạnh của nan tre. Anh bảo tôi lấy giẻ bọc một đầu để cầm cho khỏi đứt tay. Những cạnh nan tre cả bốn phía, nhất là phía ngoài cật, thật sắc, sơ sẩy là có thể đứt tay chảy máu như chơi. Vừa làm tôi vừa phục những người đan giỏ tre và những đồ dùng bằng tre. Họ phải đụng chạm bàn tay, quanh năm suốt tháng, với những thanh tre, nan tre sắc như dao cạo thế kia mà vẫn không sao.

Cặm cụi một lúc rồi cũng xong. Anh tôi chuẩn bị chặt sáu nan tre cho dài bằng nhau, cỡ đến đầu gối. Anh kê con dao phay vào chỗ đã đánh dấu, xong dùng chày đập nhè nhẹ vòng quanh nan tre rồi mới đập một nhát mạnh. Anh nói:

- Phải cắt từ từ như vậy nó mới không bị dập.
Sáu nan tre làm khung đứng đã cắt xong. Bây giờ đến ba khung cho hai đầu. Anh lấy ba nan tre còn lại, cắt ngắn cho vừa chiều daì chỉ dẫn trong tờ Tuổi Xanh, và dùng thước kẻ đo và đánh dấu phiá bên trong thành sáu đoạn ngắn cỡ một gang tay của anh. Anh bảo:
- Bây giờ mình phải dùng dao khứa vào chỗ đánh dấu lấy bớt gỗ tre ra, chỉ để chừa lớp vỏ cứng bên ngoài.

Tôi thấy anh cầm con dao nhỏ kê nan tre vào chiếc ghế đẩu và ấn lưỡi dao vào một chỗ đánh dấu trên nan tre. Nhưng chợt anh ngưng lại nói:
- Dao cùn rồi. Em đi lấy hòn đá mài ra đây.
Tôi chạy ngay ra sàn nước lấy hòn đá mài, mà mẹ tôi vẫn thường sai anh mài dao cho bà, đem vào cho anh. Anh lại nói:
- Em ra lấy một gáo nước nữa.
Khi tôi mang gáo nước vào, anh cầm con dao nhúng vào nước rồi liếc lưỡi dao xuống hòn đá mài. Liếc mặt này rồi sang mặt kia, Thỉnh thoảng lại nhúng lưỡi dao xuống gáo nước. Biết tôi đang chăm chú nhìn, anh nói:
- Em để ý nhé, mài dao là phải mài một chiều thôi. Mài hai chiều là “mất lưỡi” đấy.

Áng chừng khi dao đã đủ sắc, anh tiếp tục công việc dở dang lúc nãy. Nhờ dao sắc, anh không cần dùng sức nhiều. Anh nghiêng lưỡi dao khứa mạnh xuống hai bên chỗ đánh dấu, lấy ra một miếng gỗ tre nhỏ hình tam giác. Riêng ở hai đầu nan, anh cũng dùng dao gọt vạt chéo đi bên trong và khoét sâu chung quanh một rãnh nhỏ. Nhìn anh chăm chú làm, tôi không dám hỏi những điều thắc mắc, vì sợ anh bị sao lãng, sẽ đứt tay hay làm hỏng nan tre. Sau khi làm xong cả ba nan tre, anh bẻ từng nan theo vết cắt để thành ba cái khung hình lục giác. Anh bảo tôi:

- Em đi lấy cuộn dây thép nhỡ với cái kìm ra đây.
Tôi vội chạy vào nhà lấy cuộn dây thép mua hôm qua và cái kìm đưa cho anh. Lòng háo hức chờ xem anh làm sao để mấy nan tre trở thành cái khung đèn. Khi đem ra thì thấy anh đang xem lại lời chỉ dẫn trong báo. Anh cầm kìm cắt một đoạn dây thép daì khoảng một gang tay của tôi rồi dùng nó buộc nối hai đầu khung lục giác. Anh dùng kìm xoắn dây cho chặt mà vẫn để chừa hai đầu dây thép một đoạn. Lúc thấy anh khoét rãnh ở hai đầu nan tre, tôi không hiểu để làm gì. Bây giờ thì tôi biết tại sao rồi, nhưng lại thắc mắc chuyện khác:

- Anh để chừa hai đầu dây thép làm gì thế?
Anh trả lời:
- Để buộc vào cái nan đứng. Khỏi tốn thêm một sợi dây. Em cắt cho anh một sợi bằng sợi lúc nãy đi.
Tôi cầm kìm cắt một đoạn dây rồi đưa cho anh. Anh buộc cái khung lục giác thứ nhì xong, bảo tôi cầm cả hai khung để đứng trên bàn, hướng chỗ nối có những sợi dây thép về một bên. Anh nhặt một nan tre để vào một chỗ nối, phía cật tre hướng ra ngoài, cách đầu nan một đoạn ngắn, rồi quấn sợi dây thép quanh nan tre này một vòng, xoắn hai đầu dây lại với nhau và quặp đoạn dây đã xoắn xong vào bên trong. Anh làm tiếp như vậy với khung kia ở đầu còn lại. Anh bảo tôi bỏ tay ra. Hai khung tre lục giác đã đứng yên được trên bàn, dù hãy còn rung rinh lắm. Anh thở ra khoan khoái và nói:

- Tạm được rồi. Thôi mình nghỉ một lúc, đi uống nước.
Hai anh em chúng tôi rửa tay xong lấy mỗi người một cốc nước lọc bỏ đá cục vào cho lạnh rồi uống. Vừa uống tôi vừa hỏi:
- Sao chỉ cần hai khung ở hai đầu mà anh làm đến ba khung vậy?
- Ờ… rồi em sẽ biết. -Anh nói.
- Mình làm xong khung đèn thì dán giấy bóng hả anh? -Tôi lại hỏi
Anh tôi nuốt hết ngụm nưóc rồi nói:
- Chưa, còn phải làm nhiều việc. Báo chỉ nhiều thứ lắm, Để tối nay anh hỏi bố. Thôi ra buộc dây cho xong cái khung rồi còn học bài.
Nói rồi anh đi ngay ra sân tiến lại cái bàn mộc. Anh bảo tôi cắt dây thép thành từng đoạn, ngắn hơn hai đoạn đầu tiên lúc nãy, và dùng chúng để buộc năm nan tre còn lại vào hai cái khung lục giác. Cái khung đèn bây giờ đã thành hình nhìn giống như cái trống sáu cạnh chưa có vỏ bọc. Sau đó anh buộc dây thép cho cái khung lục giác thứ ba, và để sang một bên. Anh tôi bảo tôi:

- Thôi dọn dẹp đi rồi còn học bài, bố sắp về rồi. Mai làm tiếp.
Tối hôm đó, trong lúc đợi ăn cơm, anh Minh đem cái khung đèn và tờ “Tuổi Xanh” đến cho bố xem rồi hỏi:
- Bố, tụi con làm xong cái khung rồi. Bố xem có đúng với báo chỉ không?
Bố tôi, vừa nhìn cái khung, vừa lướt qua bài báo rồi bảo:
- Các con làm đúng đó, nhưng nhớ dùng thước “ê-ke” đo lại xem cái khung có ngay ngắn thẳng góc không. Còn phải gắn thêm giá để giữ khung đèn cho vững, và làm chỗ tựa cho cái tán nữa. Làm cái tán phải cẩn thận, không có kim đâm vào tay.

Tôi không hiểu tán là cái gì, tại sao lại có kim trong đó?. Bố tôi chỉ dẫn cho anh tôi thêm một lúc rồi nói:
-Thôi, con cứ làm xong cái tán đi đã. Có gì hỏi bố sau.
Sau khi cơm nước xong, anh tôi hỏi mẹ tôi:
- Mẹ, nhà mình có mấy cái nút bấc không?
Mẹ tôi đang xếp bát đĩa vào chạn hỏi lại:
- Con hỏi làm gì?
- Con làm đèn kéo quân. Mẹ để đâu vậy?
- Ờ…hình như ở ngăn kéo chỗ cái “xích-đông” ấy.
Anh tôi chạy ngay đến “xích-đông”. Tôi cũng lót tót theo sau. Anh mở ngăn kéo tìm và lôi ra được bốn cái nút bấc còn mới. Tôi hỏi:
- Nút bấc để làm gì vậy anh?
- Ờ…để đỡ cái tán cho nó quay.
Càng lúc tôi càng thắc mắc không biết cái tán là cái gì, mà cả bố tôi và anh tôi có vẻ chú tâm đế nó lắm. À mà anh vừa nói cái tán nó quay. Vậy chắc là nó là cái chong chóng, làm cho mấy cái hình người và thú vật quay đây. Đêm hôm đó tôi đi ngủ mà hình ảnh chiếc đèn kéo quân cứ lẩn quẩn mãi trong đầu. Tôi không biết khi làm xong nó có giống như chiếc đèn ở tiệm người ta hay không?

Hôm sau, đi học về, cơm nước xong anh Minh bảo tôi:
- Mình phải chẻ thêm nan tre nhỏ để làm giá đỡ và làm tán.
Hai anh em lại đến chỗ cái bàn mộc. Anh không quên cầm theo tờ Tuổi Xanh và cái thước “ê-ke”. Vẫn với vật liệu chính là tre, dây thép, anh Minh khéo léo gắn thêm dàn giá đỡ cho cái khung và một cây trục có cái vòng tròn bằng nẹp tre to bằng cái vành giá vo gạo. Anh vừa dùng tay xoay xoay cây trục, vừa thở phào ra khoan khoái nói:

- Ha! giống như cái lọng che, có điều chưa có mái.
Thấy anh vui, tôi hỏi:
-Mình phải làm mái cho nó nữa hả anh?
Anh tôi cười:
- Ừ, làm mái. Nhưng là… mái dột.
- Sao lại mái dột?
Anh tôi lại cười, chắc vì đã trêu được cái ngây thơ khờ dại của tôi:
- Thì phải dột nó mới quay đưọc chứ. Không dột làm sao nó quay.
Tôi vẫn đực mặt ra không hiểu anh tôi nói gì. Thấy vậy, anh tội nghiệp xoa đầu tôi và không cười nữa:
- Để làm xong anh giải thích cho. À mà có khi chưa xong em cũng đã hiểu. Thôi, em đi lấy lọ hồ và cái kéo cho anh, cái kéo nhỡ nhỡ ấy.

Khi tôi quay lại với lọ hồ và cái kéo, đã thấy anh trải một tờ giấy trắng khổ to trên bàn. Anh dùng thước và bút kẻ những đường thẳng và những đường hơi cong trên tờ giấy, rồi lấy kéo cắt giấy ra thành những dải dài. Anh khoét một lỗ nhỏ ở tâm điểm một dải giấy, bôi hồ chung quanh, và bảo tôi giữ cây tán cho thẳng đứng, rồi xỏ nó vào cây trục mặt bôi hồ úp xuống. Anh nhẹ tay ấn dải giấy xuống cho đến khi nó chạm bốn cánh tay nan tre. Anh nói:
- Phải đợi hồ khô rồi mới dán cánh.

Anh bảo tôi khoét lỗ tâm điểm cho các dải giấy, trong lúc anh đi vào nhà. Tôi ngồi tỉ mẩn làm một lúc thì thấy anh ra tay cầm bốn cái nút bấc, một cái nắp nhựa đen, hai cái nắp chai “li-mô-nát”, mấy cái kim gút. Anh đặt chúng lên bàn, rồi cầm lấy cây tán, xem lại dải giấy có dính vào trục chưa, rồi anh xoắn nhẹ một đầu giấy, và dùng hồ dán đuôi giấy vào mép cái nẹp tròn. Anh xoay cái tán cho đầu giấy bên kia hướng về phía anh rồi cũng làm như vậy. dải giấy bây giờ đã nằm dính vào cây tán, hai đầu giấy uốn cong như hai cái cánh chong chóng. Tuần tự, anh làm sáu dải như vậy đến khi xong, cây tán đã có mười hai cánh chong chóng. Anh bảo tôi đặt cái khung đèn trên bàn, Nhẹ nhàng nâng cây tán và đặt theo chiều thẳng đứng hướng từ trên xuống cho cây tán lọt vào trong lòng khung đèn. Anh vừa giữ vừa xoay nhè nhẹ cây tán và nói:

- Chắc được.
Nói rồi anh nhấc cây tán ra đặt trên bàn và ngồi duỗi ra thoải mái. Thấy vậy tôi chạy đi lấy cho anh cốc nước đá lạnh rồi đưa nhận xét:
- Mấy cái cánh chong chóng này là mái của cái tán anh nói đấy hả?
- Phải rồi. Nhờ mấy cái cánh này như những cánh chong chóng, mà cái tán mới quay tròn được. Bây giờ thì em hiểu rồi chứ? Nếu cái mái này mà kín hết thì làm sao nó quay. -Anh trả lời sau khi uống xong ngụm nước lạnh.

À, thì ra cái tán quay được là nhờ có cánh chong chóng, như cái chong chóng xếp bằng miếng giấy vuông mà tôi vẫn hay cầm hong ra gió cho nó quay. Mà chắc cái tán quay thì mấy cái hình người và thú quay theo. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu cái gì làm nó quay? Phải có gió thổi thì nó mới quay chứ. Mà đèn kéo quân để trong nhà không có gió sao nó vẫn quay?

- Nhưng đèn để trong nhà không có gió thì làm sao cái tán nó quay được anh? -Tôi lại hỏi tiếp.
- Ờ..thì em đoán đi. - Anh tôi đáp.
Aí chà, anh tôi bảo tôi đoán cái này thì tôi chịu thua thôi. Tôi thuộc loại học dốt lại ham chơi, chưa bị bố mẹ cho ăn đòn hay la mắng nhiều, chắc vì tôi còn nhỏ. Bây giờ bắt tôi đoán xem làm sao không có gió mà cái tán nó quay thì tôi đầu hàng là cái chắc. Nhưng tôi cũng chợt nhớ là ở trong nhà mấy cái quạt máy phải cắm điện thì nó mới quay nên đoán đại:
- Chắc mình phải gắn điện cho cái tán hả anh?
Anh tôi không khỏi phì cười:
- Phải gắn điện thì anh em mình mất công làm cánh chong chóng làm gì.
- Vậy tại sao nó quay được? Em chịu thua rồi.
- Em phải suy nghĩ nữa đi. -Anh tôi chưa chịu tha cho tôi.
Khó thật! Anh tôi sao rắc rối không chịu chỉ cho tôi ngay đi mà còn bắt tôi suy nghĩ nữa. Ừ, hay là người ta bắt một cái giây cót vào cái trục tán, rồi mỗi lần muốn cho nó quay, người ta vặn giây cót cho nó quay. Nhưng chắc cũng không đúng, vì như vậy đâu cần làm cái tán với những cánh chong chóng. Rõ ràng là cần có gió để cái tán nó quay, nhưng lấy gió ở đâu bây giờ? Hay là lấy quạt giấy quạt cho nó? Nhưng cái đèn kéo quân ở tiệm nó có cần ai quạt đâu mà vẫn quay đều. Tức thật! Chắc tại tôi còn nhỏ quá nên tôi chưa biết. Thấy tôi ngồi đực mặt ra anh tôi thương hại:

- Em nghĩ đi, tại sao cái đèn kéo quân nó chỉ quay khi có đốt nến, còn không đốt nến thì nó không quay?
À, có vụ đốt nến nữa mà tôi không để ý. Nhưng đốt nến là để có ánh sáng rọi mấy cái hình người và thú vật lên khung đèn, chứ sao lại làm quay cái tán được? Và rồi nhớ lại, cái đèn kéo quân ở tiệm không đốt nến mà dùng bóng đèn điện nó vẫn quay. Tôi hỏi anh:
- Nhưng sao cái đèn ở tiệm không đốt nến, nó thắp sáng bằng bóng đèn điện mà vẫn quay?
- À, bóng đèn điện cũng được, miễn có hơi nóng tỏa ra là được.
Ồ, hơi nóng tỏa ra. Vậy là hơi nóng tỏa ra từ ngọn nến hay bóng đèn điện đang cháy sáng làm quay cái tán. Tôi reo lên:
- A, em biết rồi, có phải khi đốt nến, hay bật sáng bóng đèn điện trong đèn kéo quân, thì hơi nóng tỏa ra làm quay cái tán không anh?
Anh tôi xoa đầu tôi tỏ ý hài lòng và giải thích thêm:
- Đúng đấy. Em giỏi lắm. Nến cháy hay bóng đèn sáng sưởi nóng bầu không khí chung quanh nó. Không khí nóng đó ở trong đèn thì nhẹ mà lại bị che kín chung quanh, nên chỉ có một lối thoát là bốc thẳng lên, như một làn gió đi xuyên qua những cánh chong chóng, làm quay cái tán. Không khí lạnh ở dưới đèn sẽ tự động được hút vào, thế chỗ, và tiếp tục được suởi nóng rồi bốc lên. Cứ như thế, chừng nào nến còn cháy hay bóng đèn còn sáng thì cái tán còn quay. Bây giờ anh em mình phải làm nốt những việc còn lại cho cái tán rồi còn đi học bài.

Anh Minh lấy hai cái nút bấc khoét lỗ, gắn vào trục cây tán, ở trên và dưới tâm của những cánh chong chóng để giữ những cánh này dính chặt vào trục. Anh cũng gắn hai cây kim gút ở hai đầu trục. Anh cầm thẳng cây tán, đặt đầu dưới có cái kim nhọn xuống mặt bàn, rồi nhẹ tay xoay xoay cây trục cho nó quay vòng tròn, vừa xoay vừa nghiêng đầu nhìn. Anh nói:
- Chắc được. Không lệch lạc gì cho lắm. Em nhớ nhé, cây tán quan trọng lắm. Nếu nó không ngay ngắn, thẳng thắn và đều đặn thì nó sẽ không quay đâu.
Nói xong anh lấy giấy bọc hai đầu kim và cất tán trên kệ cao.
- Thôi mình dọn dẹp rồi đi học bài. Mai làm tiếp -Anh giục tôi.
Qua hôm sau, anh Minh đã hoàn tất các công việc cần làm cho khung đèn và tán. Cái tán đã có thể được đặt vào trong khung đèn bằng cách đưa từ bên trên xuống. Cây kim ở đầu trục tán bên dưới chui qua giữa một cái nút bấc, tựa trên một nắp nhựa đen, gắn ngay tâm của khung lục giác đế đèn . Cây kim ở đầu trên cây trục được giữ bằng cái nút bấc gắn ở tâm khung lục giác rời đậy lên trên. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao phải làm thêm một khung lục giác rời rồi.

Anh tôi dùng tay quay nhẹ. Cái tán nhẹ nhàng xoay đều trong lòng khung đèn. Tôi thắc mắc:
- Thế lỡ quay lâu cái đầu kim bên dưới nó nhọn nó làm thủng cái nắp nhựa thì sao anh?
- Anh đã lót một miếng gỗ bên trong nắp, còn lâu mới thủng nổi. Mình chỉ sợ là đầu kim sẽ cùn, làm tán khó quay. Cây kim này của bố cho, bố bảo nó rất cứng, chắc cũng còn lâu kim mới mòn. Mà có mòn mình thay cái khác không khó. -Anh trả lời tôi.
- Bây giờ mình đốt nến xem nó có quay không đi anh? -Tôi háo hức nói.
- Không. Mình phải phất giấy bóng trước đã. -Anh tôi đáp.
- Ủa, sao anh không thử trước đi. Lỡ nó không quay mình còn sửa trước khi phất giấy? -Tôi lại hỏi.
- Ờ, không được. Mà đố em tại sao đó. -Anh vừa nhìn tôi vừa nói.
Khổ rồi, lại đố nữa. Làm sao tôi biết được tại sao phải phất giấy xong rồi mới thử đèn? Sao không nhân tiện cái khung chưa phất giấy, thử đốt nến lên xem nó có quay không? Nếu có gì trục trặc, cần sửa, thì sửa lúc khung đèn chưa bị bao bọc kín bởi lớp giấy bóng mờ, vẫn dễ hơn chứ? Cái điệu này chắc cũng lại chịu thua luôn thôi. Đã bảo tôi thuộc loại “dốt đặc cán mai” mà. Tức quá! Tại sao phải phất giấy trước khi thử?

Tôi đã có ý nghi ngờ, nhưng anh tôi đã nói thì tôi phải tin. Anh nói bao giờ cũng đúng, và anh nổi tiếng thông minh trong nhà, nói gì cũng như đinh đóng cột thì tôi cứ việc nhắm mắt mà tin. Không lôi thôi gì cả. Tôi đành xuống nước:

- Em chịu, không biết. Tại sao vậy anh?
Chắc không muốn mất thì giờ, vì cũng đã trễ hơn bình thường, anh giải tỏa thắc mắc cho tôi:
- Tại em không nhớ. Hôm qua anh đã giải thích rồi. Nhưng thôi, để anh nói rõ thêm cho em biết rồi mình làm nhanh còn tắm rửa học bài nữa. Này nhé, nguyên tắc hoạt động của đèn kéo quân như em đã biết, là hơi nóng từ ngọn nến hoặc bóng đèn đang cháy làm nóng bầu không khí chung quanh nó. Không khí nóng này nhẹ bốc lên cao, làm quay cây tán có những hình nhân treo trên đó. Muốn cho luồng khí này bốc lên mạnh để đủ sức làm quay tán, đèn phải làm theo hình ống tròn, vuông hoặc lục giác, và phải được che kín chung quanh bằng giấy hoặc vải. Nếu không che kín chung quanh, không khí nóng không được tập trung trong đèn, sẽ tỏa ra chung quanh nhiều và sẽ không đủ sức làm quay tán. Mình phải phất giấy bóng trước khi thử đèn là vì lý do đó. Thôi bây giờ phải gắn hai cái nắp chai vào để làm chỗ cắm nến rồi còn phất giấy nữa.

Anh lấy hai cái nắp chai “li-mô-nát” ra, dùng “tô-vít” nhỏ nậy cho sạch lớp “li-e” bên trong, rồi dùng đinh nhỏ và búa đóng cho thủng hai lỗ nhỏ trên mỗi cái. Anh bảo tôi cắt cho anh hai sợi dây thép, lần lượt anh xỏ dây qua mỗi cái nắp,và buộc vào đoạn nan tre nằm ngang ở đế đèn. Xong anh giở cuộn giấy bóng mờ ra bàn, dùng thước đo, đánh dấu rồi cắt thành một tấm hình chữ nhật dài. Anh bảo tôi lấy hộp hồ bôi bên ngoài một cây nan đứng của khung đèn, trong lúc anh dở cái khung lục giác bên trên và nhấc cái tán ra ngoài. Khi tôi bôi hồ đến nan đứng thứ ba, thì anh bắt đầu dán tờ giấy bóng mờ lên một ô chữ nhật của khung đèn. Anh thật khéo tay, các cạnh nan đứng có bôi hồ giữ dính phần đầu tiên của tờ giấy bóng mờ anh đang cầm trên tay một cách thẳng thắn và gọn gàng. Lần lượt khi tôi bôi xong hồ cho cái nan cuối, và đứng xích ra ngoài, thì anh cũng đang phất giấy cho ô chữ nhật cuối cùng. Khi anh ngừng tay, cái đèn đã được bao bọc chung quanh bằng một lớp giấy bóng mờ trắng. Anh nói:

- Thôi dọn dẹp sơ sơ rồi đi tắm rửa học bài. Trễ rồi đấy. Để tối nay ăn cơm xong đưa bố xem trước khi mình thử.
Tối đó, ăn cơm xong, không chờ anh hỏi, bố tôi đã gọi anh và bảo mang đèn cho bố xem. Khi anh mang chiếc đèn vào và lắp cái tán, bố tôi chăm chú xem xét, thử dùng tay quay cái tán rồi bảo anh dùng dây buộc treo cái đèn lên trần nhà, thả xuống ngang tầm mắt. Bố nói:
- Con nhớ buộc dây cho đều. Lấy ba sợi dây gai buộc vào ba góc đèn, đo cho đều, cân cho ngay, rồi hãy thắt nút chúng lại. Cái đèn mà nghiêng là cái tán không quay đâu.
Tôi phụ với anh loay hoay treo được chiếc đèn thì nghe bố gọi to:
- Mẹ nó ơi, có muốn ra xem cái đèn kéo quân của con nó làm không này, cả cái Vân với cái Mai nữa.
Mẹ tôi đang rửa tay, nghe bố tôi gọi vội bước đến. Chắc mẹ cũng muốn thấy cái đèn anh em tôi làm xem nó ra làm sao.
- Gớm, mấy hôm nay chỉ thấy chúng nó chúi đầu vào làm đèn, chẳng sai bảo gì được. Đâu, cái đèn đâu nào? Không biết có nên cơm cháo gì không? -Mẹ tôi vừa lau tay vào khăn vừa nói.
Bố tôi bảo anh tôi lấy một cây nến để đốt đèn. Bố nói:
- Con phải để ý đừng đốt nến cao quá có thể cháy cây tán. Lúc châm lửa cũng phải cẩn thận không cháy đèn.

Xem tiếp phần hai

Hội Văn Hóa Việt Nam tại Anh Quốc
Copyright © 2011
(PhÀn 1)