Loading
 
ñÜ©ng Lên Yên Tº
(Cao thị Liên Hương - Calgary Canada)


Núi Yên-Tử với độ cao 1.068m, nằm trong dãy núi Đông-triều, vùng đông-bắc Việt-nam, thuộc xã Thượng-yên-công, thị-xã Uông-bí, tỉnh Quảng-ninh, cách Hà nội hơn 120 km đường xe chạy.

Kể từ khi vua Trần-Nhân-Tông từ bỏ ngai vàng, khoác áo nâu sòng, thành-lập một giòng Thiền Việt-nam : Thiền Trúc-Lâm , Yên-Tử trở thành trung-tâm Phật-Giáo của Việt-Nam. Vua Nhân-Tông là vị tổ thứ nhất của giòng Thiền Trúc-Lâm Yên-tử. Vua cho xây-dựng nhiều chùa tháp trên núi Yên-Tử để làm nơi tu-hành, giảng đạo.

Vì vậy, Yên-Tử không chỉ là một thắng-cảnh thiên-nhiên của Việt-nam, nơi đây còn lưu giữ hình-ảnh của một vị vua nhân-từ đức-độ, vị vua mà tên tuổi gắn liền với lịch-sử chống ngoại-xâm hào-hùng của dân-tộc Việt-Nam, là người đầu tiên hỏi ý dân với Hội-nghị Diên-Hồng, một hội-nghị mà không một người dân Việt nào không cảm thấy hãnh-diện, tự-hào khi nhắc đến.

Theo Đại-Việt sử-ký toàn-thư : “ Vua Nhân Tông tên húy là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11, ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng. Hai cung810 đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên [38b] đồng tử. Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng. Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

Trước khi sống đời sống của một thiền-sư hạc nội mây ngàn, làm bạn với chim muông cây cỏ trong chốn nước nhược non bồng, Trần-Nhân-Tông là một vị vua anh-minh, đức- độ, thương dân như con đỏ.

Trong thời-kỳ vua Nhân-Tông trị-vì, 2 lần quân Nguyên sang dày xéo, xâm chiếm nước Nam, cả hai lần đều bị quân dân nước Việt đánh bại thê-thảm. Với Hội-nghị Diên-Hồng, đoàn-kết được lực-lương của toàn dân, tạo sức mạnh vững-chắc cho cuộc chiến chống ngoại-xâm, trận Bạch-Đằng lẫy-lừng, nơi chôn xác quân xâm-lăng phương Bắc, đã đưa tên tuổi vua Nhân-Tông gắn liền với truyền-thống chống ngoại xâm của dân-tộc Việt- Nam.

Khi đất nước đã hoà-bình, nhân-dân có cuộc sống no ấm, hạnh-phúc, mùa xuân ngày mùng 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293),  vua Trần-Nhân-Tông trao quyền lại cho con là Trần-Anh-Tông và sau đó quyết-định xuất-gia.

Từ một vị vua quyền-thế tột cùng, thản-nhiên buông bỏ tất cả, khoát lên chiếc áo nâu sòng, ngày ăn cơm rau, đêm ngủ giường cỏ mà cư trần lạc đạo, chính phong-thái sống này của vua Nhân Tông khiến cho hậu nhân phải noi gương.

Tuy xuất-gia, bước chân vào cửa Phật nhưng vua vẫn không rời bỏ vị-thế con dân của một nước, ngài vẫn giúp đỡ, góp ý với vua Anh-Tông trong việc trị quốc, hết lòng vì dân vì nước nhưng vẫn nắm chắc mối đạo,  sáng-lập nên môn-phái Trúc-Lâm Yên-Tử, một trong những giòng Thiền tại Việt-nam, mà vị tổ sáng lập là người Việt.

Trước giòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, Việt nam có 3 dòng Thiền khác, người sáng lập đều từ phương Bắc qua.

Giòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi : tổ sáng-lập là thiền-sư Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi  (Vinitaruchi).

Sư là người miền Nam Ấn-độ, thuộc giòng Bà-la-môn. Được tâm-ấn và lời dặn dò của tổ Tăng-Xáng phải qua phương Nam hoằng-pháp, ngài đến Quảng-châu ( nam Trung-hoa), ở lại nơi đây 6 năm.  Sau đó ngài sang Việt-nam, trụ-trì tại chùa Pháp-Vân (Hà-đông).  Ngài thị tịch năm 602, truyền thừa lại cho đệ-tử là Pháp-Hiền. Pháp-Hiền là đời thứ nhất của giòng Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi.

Đời cuối của giòng Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi là thiền-sư Y-Sơn (1213)

Giòng thiền Vô-Ngôn-Thông  : tổ sáng lập là thiền-sư Vô-Ngôn-Thông.

Sư họ Trịnh, quê ở Quảng-châu. Tánh sư điềm-đạm ít nói, thông-minh, nên người thời đó gọi là Vô-Ngôn-Thông.

Giòng Vô-Ngôn-Thông truyền thừa đến đời thứ 14 là Thiền-sư Hiện-Quang (1221). Đến cư-sĩ Ứng-Vương  đời thứ 15 ( không biết năm sanh và năm mất) là đời cuối cùng.

Giòng thiền Thảo-Đường : tổ sáng lập là thiền sư Thảo Đường.

Sư là người Trung-hoa, đệ-tử của của thiền-sư Trùng-Hiển ở Tuyết-đậu. Không rõ lý-do gì sư sang Chiêm-thành. Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lý-Thánh-Tôn đem binh sang đánh Chiêm-thành, bắt được vua Chế-Củ và một số tù-binh, trong số tù-binh đó có sư Thảo- Đường. Một vị tăng phát-hiện ra sự thông-hiểu Phật-pháp của sư, tâu lên vua Lý-Thánh- Tôn. Vua cho vời vào triều, đem kinh, luận và thiền ra hỏi sư, sư ứng-đối trôi chảy. Cảm- phục sự uyên-bác của sư, vua phong sư làm quốc-sư, mời sư đến ở chùa Khai-Quốc trong thành Thăng-Long. Vì vậy Thảo-Đường trở thành giòng thiền thứ ba của Việt-nam.

Giòng thiền Thảo-Đường chỉ truyền xuống 5 đời thì không còn truyền thừa. Đời thứ 5 có Lý-Cao-Tôn (1176-1210). Như vậy ta có thể đoán giòng thiền này chỉ tồn-tại cho đến khoảng hơn năm 1210 là không còn nữa.

Năm Quý Tỵ (1293), vua Nhân-Tông truyền ngôi cho Anh-Tông. Như vậy vua xuất-gia sau năm 1293 (có thể là 94 hay 95 hay 96 ???).Và 3 giòng thiền trước, người thừa-kế cuối cùng, tất cả đều trước ngày vua Trần-Nhân-Tông thành-lập giòng Thiền Trúc-Lâm Yên-Tử.

Kiểm qua các giòng Thiền Việt-nam, ta thấy 3 giòng Thiền trước đều do người nước ngoài là tổ sáng-lập. Duy chỉ vua Trần-Nhân-Tông là người Việt sáng-lập nên giòng thiền Trúc-Lâm Yên-Tử.

Cũng từ đây, các giòng thiền kia coi như giải thể và sáp-nhập vào giòng thiền Trúc Lâm để tạo thành một giòng Thiền thống nhất cho đến khi nhà Minh sang xâm chiếm nước ta (1414-1427). Nhà Minh sửa sang lại tất cả các việc trong nước để đồng-hoá dân ta với người Tàu. Họ lập ra đền miếu, bắt người nước ta cúng-tế theo tục Tàu. Từ cách ăn-mặc cho đến học-hành cũng phải theo như người Tàu. Sách vở của nước ta tất cả đều bị thu-nhặt đem về Tàu . Và vì vậy kinh sách cũng theo số phận này trôi về Tàu. Thiền Trúc-Lâm cũng suy yếu từ đó.

Đạo Phật không phải là đạo xuất thế mà là đạo nhập thế, điều này thể-hiện thật rõ-ràng trong đời sống của vua Nhân-Tông. Đối với quốc-gia, vua không một ngày xao-lãng. Với dân, vua thương-yêu, lo-lắng, vỗ-về chăm-sóc. Khi đất nước lâm nguy, xả thân không tiếc để giữ-gìn biên-cương lãnh-thổ. Phải giữ-gìn từng tấc đất của tiền-nhân để lại., đó là di huấn của ngài :

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung-Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn-vặt xảy ra trên biên-ải.

Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn-trọng biên-giới qui-ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh-chấp. Không thôn-tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất-đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang-san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

"Một tấc đất của tiền-nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn-nhủ đó như một lời di-chúc cho muôn đời con cháu.”

Ngày mồng một, tháng 11, năm Mậu Thân (1308), nửa đêm, giờ Tý, ở am Ngoạ-Vân, núi Yên Tử, vua lặng-lẽ rời cõi thế. Ngài ra đi trong sự buồn thương đau xót của toàn dân Đại Việt,

Ngày nay, nhìn đất nước nghiêng-ngả, từng mảnh đất bị mất dần, từng dãy đảo bị nuốt dần, không một người con dân đất Việt nào không đau lòng. Lời dạy vàng ngọc của vị vua nhân-ái, anh-minh đựợc con cháu thiết-tha nhắc đến. Trận Bạch-Đằng, Hội-nghị Diên-Hồng lại hiện ra rực rỡ trong lòng người dân yêu-nước.

Đường lên Yên-Tử tuy xa vạn dặm nhưng cũng gần trong tầm với. Bằng tấm lòng chân-thành, những người Phật tử hôm nay, không chùn bước trước những gian-nan nguy- khó, nhìn gương tiền-nhân, bước theo mà lòng không nao núng. Cố noi gương tiền-nhân làm những việc mình phải làm. Gắng thực-hành con đường mà vua Trần-Nhân-Tông xưa đã làm : Đưa đạo vào đời, hoà đời với đạo. Thực hành con đường Trung đạo mà đức Phật đã dạy  :

“Trung đạo theo nghĩa Phật dạy, phải hiện-diện trong cả hai (đạo và đời), nhưng phải vượt lên trên cả hai. Tuy nằm trong đời để giúp đời, nhưng đạo không nhiễm mùi xú-uế của đời. Tuy nằm trong đạo, được đạo xông ướp hương thơm của đạo, nhưng đời vẫn giữ y nguyên sức-sống năng-động đa dạng của mình. Có như thế thì đạo mới không trở nên khô cằn như lá úa cành khô, và đời mới trở nên tươi vui đáng sống. Nói tắt một lời cho dễ nhớ là : Trung-đạo là cái đạo có mặt trong cả đạo lẫn đời, tương thông giữa hai bên, nhưng vượt lên trên cả hai, và không bị riêng bên nào chi phối.” (Trích yếu Phật học-Cao Hữu Đính)

Tin rằng mùa xuân sẽ trở về trên giải đất hình cong chữ S như một sáng mai thức giấc, mở tung cửa sổ, chợt thấy mùa xuân đã trở về :

XUÂN HIỂU

Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi
TrầnNhân Tông


Dịch nghĩa
BUỔI SỚM MÙA XUÂN

Ngủ dậy mở cánh cửa sổ,
Không ngờ mùa xuân đã về.
Một đôi bướm trắng,
Phần phật cánh, bay đến với hoa.

Dịch thơ
Ngủ dậy, mở cửa sổ,
A, xuân về rồi đây!
Kìa một đôi bướm trắng,
Nhằm hoa, phơi phới bay.
( Trần Lê Văn)

15-03-2009

Hương Cao

Khuôn hội Phật giáo Yên Tử

yentu
Hội Văn Hóa Việt Nam tại Anh Quốc
Copyright © 2011
Anh1
yentu2
ytu3
Y1
6999_G_1295226775159