Loading
Nh»ng Hùng Væn Trong LÎch Sº
Hội Văn Hóa Việt Nam tại Anh Quốc
Copyright © 2011
Bình Ngô Đại Cáo

Bình Ngô Đại Cáo

Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi

Quang Trung Nguyễn Huệ

Quang Trung Nguyễn Huệ

Vua Quang Trung đại phá quân Thanh

Vua Quang Trung đại phá quân Thanh

( tiếp theo kỳ trước )

*  Bình Ngô Đại Cáo

Nhà Trần đã có công sửa sang chính trị, giữ vững giang san, mặt Bắc thì chống được nhà Nguyên, phía Nam thì lấy đất Chiêm Thành, mở mang bờ cõi, nhưng về cuối đời lại suy vi nên bị Hồ Qúy Ly thoán đoạt chiếm ngôi. Hồ Qúy Ly xưng đế hiệu năm 1400, làm vua được 7 năm thì bị quân nhà Minh bên Tàu lấy cớ họ Hồ tiếm ngôi mà đem binh sang chiếm nước Việt ta, làm nhân dân lại chịu ách thống trị, lầm than cực khổ.

Kể những thời đại nước Việt Nam mất quyền tự chủ và chịu ách thống trị của ngoại bang, thì những năm thuộc nhà Minh (1414-1427), tuy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng lại là những năm mà dân chúng đã phải chịu đựng nhiều lầm than khổ nhục. Năm Bính Tuất (1406) Minh Thành-Tổ, mượn cớ giúp vua nhà Trần dẹp sự tiếm nghịch của Hồ Qúi-Ly, sai Thành quốc-công là Chu Năng làm Đại tướng, cùng với hai phó tướng là Tân thành-hầu Trương Phụ và Tây bình-hầu Mộc Thạnh tuyển binh làm hai đạo sang đánh An-Nam. Khi tả quân từ Quảng Tây đến Long Châu thì đại tướng Chu Năng qua đời và Trương Phụ lên làm thống lĩnh, tiến quân đánh lấy cửa Ba Lụy, tức là Nam quan bây giờ, rồi tiến sang phía tây bắc, về mé sông Cầu.

Từ Vân Nam, Mộc Thạnh chuyển quân theo đường Mông Tự sang đánh lấy cửa Phủ Lĩnh thuộc tỉnh Tuyên-Quang rồi tiến về phía Sông Thao để hội ở Bạch Hạc với đạo quân của Trương Phụ. Phó tướng Mộc Thạnh là người nhiều mưu lược, nhưng lại dè dặt trong việc dụng binh. Trong khi ấy thì Trương Phụ là người tham bạo, đi đến đâu là tàn sát, thây người xếp thành núi, người chết rồi còn nấu thịt để lấy dầu. Mặt khác quân xâm lăng nhà Minh còn chiêu dụ người bản xứ ra làm tay sai, nhận những chức quan nhỏ để cùng chúng vơ vét bạc vàng, bắt đàn bà con gái để đưa về Tầu. Người dân, tuy oán hận Hồ Qúi-Ly, nhưng cũng còn luyến tiếc nhà Trần, và cảm thấy nỗi nhục vong quốc nên vẫn còn có nhiều nơi nổi lên phù trợ hậu duệ vua Trần để chống quân xâm lăng. Trương Phụ và Mộc Thạnh phải hai lần kéo quân sang nước ta, quân Minh hung hãn đánh dẹp từ địa đầu quan ải cho đến tận đất Hoá châu. Tháng Chín năm Qúy Tỵ (1413), Trương Phụ dẫn quân vào Thuận Hoá, phá được tàn quân nhà Hậu Trần, vị vua cuối cùng là Trần Qúi Khoách, cùng với những bộ tướng trung kiên như Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy phải chạy vào ẩn núp trong rừng núi nhưng sau đó đều bị bắt, và trên đường bị giải về Yên Kinh vua tôi đều tuẫn tiết, mang cái chết báo đền cho non sông.

Sau khi chiếm trọn được lãnh thổ, bình định được hai châu Thuận Hóa và Tân Bình ở cực nam đất nước, giáp với Chiêm Thành, Trương Phụ làm sổ kiểm tra dân đinh, đặt quan cai trị, coi giang sơn gấm vóc của nước ta như vẫn còn là Giao châu đời nhà Đường khi xưa. Tháng Tám năm Giáp Ngọ (1414) Trương Phụ và Mộc Thạnh về Tàu đem theo tiền bạc vơ vét được và một số đông phụ nữ bị ép buộc phải đi theo.

Trong thời gian lệ thuộc nhà Minh tiếp theo đó (1414-1427), dưới sự cai trị thật dã man và tàn nhẫn của bọn tham quan Lý Bân và Mã Kỳ được cử sang thay cho Trương Phụ, dân ta bị sách nhiễu trăm đường khổ sở. Những chỗ có mỏ vàng, mỏ bạc thì dân bị đốc thúc đi khai mỏ, thật là cực nhọc. Miền rừng núi thì người sơn cước bị lùa vào rừng, tìm ngà voi, sừng tê giác, săn bắn, đặt bẫy để bắt những loài chim qúy, những thú vật hiếm hoi để đưa về Tầu, dễ gây ra diệt chủng cho nhiều loài muông thú. Trong khi ấy thì lại có những người bản xứ, tuy cũng đã theo đòi nghiên bút, biết đôi chữ nghĩa, nhưng vì tham danh lợi, không cần liêm sỉ, ra làm quan với nhà Minh, ỷ thế vào giặc để tham nhũng bóc lột dân lành.

Vào thời đại dân tình cực khổ, lòng người sầu oán, sĩ phu càng thấy tâm hồn ưu uất khi đọc lại bài Thuật Hoài của liệt sĩ Đặng Dung:

Thế sự du du nại lão hà!
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà,
Quốc thù vị phục, đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền, đái nguyệt ma"

Hai câu cuối tả người tráng sĩ dưới trăng mài kiếm lo báo thù nước, hay được người đời nhắc nhở, và dịch là

"Thù nước chưa đền, đầu sớm bạc,
Dưới trăng mài kiếm, đã bao phen."

Nhưng đất nước ta, qua cơn bĩ cực lại tới tuần thái lai. Nhờ vận nước trở lại hanh thông, vị anh hùng áo vải ở Lam Sơn là Lê Lợi, vào mùa Xuân năm Mậu Tuất (1418) đã dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch khắp nơi kể tội nhà Minh và kêu gọi người dân đồng lòng hiệp sức đuổi quân xâm lăng tàn bạo ra khỏi bờ cõi của non sông. Sau mười năm gian lao vất vả, Bình Định Vương nhờ được chính nghĩa, dùng sức yếu mà thắng được thế giặc mạnh, phá tan quân địch ở Tây Kinh, rồi kéo quân về uy hiếp Đông Đô, làm khiếp vía Chinh Di tướng quân là Vương Thông do Minh Đế cử sang cứu viện.

Trong trận đánh cuối cùng, quân Minh lại tăng viện theo hai ngả, dùng Chinh Lỗ phó tướng quân Liễu Thăng theo đường Quảng Tây và Chinh Nam đại tướng quân Mộc Thạnh theo đường Vân Nam, những tưởng phen này lại phá thành dẹp lũy, đem bản đồ đất Giao châu về Minh triều dâng hiến. Nào ngờ quân của Bình Định Vương, đao mài lưỡi cho sắc, mũi thương nung cho nhọn, quân sĩ hăng say quyết lòng tử chiến với địch, ở trận Chi Lăng Liễu Thăng bị đại bại, để rồi tử vong tại Mã Yên Sơn, tướng nhà Minh thì Lương Minh tử trận, Lý Khánh đâm cổ tự vẫn. Đám tàn quân do đô đốc Thôi Tụ và thượng thư Hoàng Phúc thu thập, kéo nhau chạy về Lạng Giang cũng bị những hổ tướng của Bình Định Vương là Lê Khôi và Nguyễn Xí đem quân thiết kỵ đuổi theo truy kích và vây bắt để rồi kẻ dập đầu tạ lỗi, người qùy gối đầu hàng.

Bình Định Vương, lấy nhân nghĩa để thu phục lòng người nên mở đường cho Vương Thông dâng biểu về vua Tuyên Tông nhà Minh để xin cầu hoà. Đến tháng chạp năm Đinh Mùi (1427), Vương y lời hội ước, tha chết cho quân Minh, cấp cho thủy quân 500 chiếc thuyền và giao cho bọn Phương Chính và Mã Kỳ quản lĩnh để dương buồm ngược về Bắc phương, và cùng một lúc thả 2 vạn quân sĩ đã ra hàng cho Tham tướng nhà Minh là Mã Anh chấp lãnh, rồi đưa qua sông Nhị Hà để lục tục kéo về Tầu cùng với chủ tướng Vương Thông đi đoạn hậu. Đuổi được quân thù ra ngoài bờ cõi, toàn dân Việt đã hoan ca mở một kỷ nguyên mới, tự chủ cho giang sơn.

Sau khi đã dẹp xong nạn xâm lăng, đánh đuổi quân Minh trở về phương Bắc, Vương ra lệnh cho công thần Nguyễn Trãi viết bản "Bình Ngô Đại Cáo" tại bờ sông Hồng, trong tư dinh Bồ Đề để tuyên cáo với quốc dân rằng can qua nay đã hết, quốc gia bắt đầu một thời đại bình trị. Bản văn viết từ năm 1427, cho tới nay đã trải qua gần 6 thế kỷ mà vẫn lưu truyền lại như là một áng văn chương tuyệt tác, nói lên tinh thần bất khuất của người dân Việt, khi đọc lên lại thấy từ chương hào hùng đậm tình dân, nghĩa nước, ý nghĩa lại xâu xa đề cập tới những lý thuyết khoa học cao siêu như đề phòng muông thú tuyệt chủng, bảo vệ môi sinh, những điều mà các nước tiền tiến trên hoàn vũ phải sang hậu bán thế kỷ thứ hai mươi mới đề cập đến. Bản hùng văn viết bằng chữ Hán, được cụ Phó bảng Bùi Kỷ dịch ra chữ quốc ngữ nay lại được nữ sĩ Trùng Quang dịch ra văn vần, theo thể song thất lục bát.

Đoạn văn mở đầu đã minh định rằng nước Việt ta là một nước văn hiến, độc lập, cùng với các triều đại Trung quốc, hai phương khác nhau. Từ đoạn dịch văn suôi:

Như nước Việt ta từ trước,
Vốn xưng văn hiến đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương.
nay chuyển sang lời thơ

Đất nước Việt, quốc gia văn hiến,
Bờ cõi xưa phân biệt rõ ràng,
Núi sông Đại Việt phương Nam,
Bắc phương Trung quốc cách ngàn dặm xa.
Mọi phong tục đều là cách biệt,
Đinh, Lý, Trần,... kiến thiết, sửa sang.
So cùng Trung quốc Hán, Đường,
Tống, Nguyên,... xem cũng một phường khác chi.
Bản văn nhắc lại những chiến tích diệt xâm lăng trưóc kia, quân ta đã đánh bại nhiều danh tướng uy dũng của thiên triều

Lưu Cung sợ uy mất vía,
Triệu Tiết nghe tiếng giật mình,
Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô,
Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã.
cùng với lời thơ dịch

Lưu Cung kẻ cậy tài thất trận,
Triệu Tiết kia thiển cận bại vong,
Bắt Toa Đô lập kỳ công,
Mã Nhi mất mạng tại sông Bạch Đằng.
Quân Minh đã vơ vét tài sản của dân Việt mang về và người trí lự có kiến thức bác học là Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay tới sự thiệt hại lâu dài, những loài muông thú qúy hiếm có thể bị diệt chủng, cảnh vật thiên nhiên trở nên tiêu điều thiếu sự cân bằng. Chúng ta thử đọc đoạn phiên dịch văn suôi của cụ phó bảng Bùi Kỷ

Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn,
Nặng khoa liễm vét không sơn trạch.
Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu,
Nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả,
Tàn hại cả côn trùng thảo mộc,
Nheo nhóc thay! quan quả điên liên.

Những lời than phiền báo động này, thường được nghe ở thế kỷ hiện hữu từ các nước tiền tiến, thế mà đã được Quan phục hầu Nguyễn Trãi viết ra từ đầu thế kỷ thứ 15, và nay được cụ Trùng Quang viết thành thơ cho giới trẻ dễ đọc, dễ nhớ:

Nghĩa nhân, đạo đức tiêu hao,
Bao nhiêu tài lợi thu vào túi tham.
Dân lên núi đào vàng dâng chúng,
Mò ngọc trai dưới vũng biển sâu,
Lam sơn chướng khí dãi dầu,
Dòng sâu đành phận thảm sầu vùi thân.
Săn lộc nhung trong ngàn rừng thẳm,
Chăng lưới tìm muôn hạng chim muông...
Toàn dân điêu đứng, kinh hoàng,
Mất chồng, mất vợ,... muôn vàn khổ đau.
Trong mười năm kháng chiến, trải bao gian khổ, nhiều lúc Vương thấy thật là cô đơn vì thiếu ngưòi có tài năng trợ giúp. Nguyễn Trãi đã bộc lộ được sự khao khát cầu hiền của minh chủ qua những lời viết thật tha thiết
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.
Đôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông,
Mấy thuở đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả.

và lời thơ dịch của người thời nay cũng theo sát được hết ý từ

Những lo lắng trên đường phục quốc,
Nhân tài như lá trút mùa thu.
Bình minh nhạt ánh sao thưa,
Anh hùng hào kiệt bây giờ mấy ai!
Xuôi, ngược vẫn thiếu người mưu lược,
Sớm tối mong gặp được nhân tài,
Ôi! nhưng âm tín xa vời,
Người không! lương cạn rối bời tâm can.

Trong "Bình Ngô Đại Cáo" có những câu mà nay trở thành kinh điển, được nhiều đoàn thể trích dẫn in trong những thông cáo gửi cho thành viên hay kèm theo hịch văn phổ biến ra đại chúng. Những câu hay được nhắc nhở đến là:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà Lân trúc phá tro bay.
Sỉ khí đã hăng,
Quân thanh càng mạnh.

Những câu thơ đối chiếu, đời nay viết ra, tuy nhịp nhàng nhưng không kém phần uy dũng

Đem đại nghĩa thắng hung tàn,
Trí, nhân thu hút hoàn toàn niềm tin.
Trại Bồ Đằng vang rền sấm nổ,
Trận Trà Lân trúc vỡ khói lan...
Tinh thần chiến đấu vượt ngàn,
Quân ta từ đấy tiếng vang lẫy lừng.

Trước khi vào đoạn kết, báo cho toàn dân biết giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ nay vững bền, đại công thần Nguyễn Trãi, người đã từng theo Bình Định Vương bao năm, trải nhiều gian truân, cam khổ, đã biết phơi bầy lòng dạ nhân từ của Vương khi tha chết cho tàn quân Minh, giờ đây đã run sợ quy hàng. Trong bản phiên dịch của cụ Bùi Kỷ ta đọc được những câu:

Suối máu Lãnh Câu, nước sông rền rĩ,
Thành xương Đan Xá, cỏ nội đầm đìa.
Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy.
Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội.
Thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh

Nhửng câu văn tả những chiến tích oai hùng diệt ngoại xâm của vua Lê Lợi, nhưng cũng nói lên lượng hải hà của Bình Định Vương. Nữ sĩ Trùng Quang đã dịch lại như sau:

Tại Lãnh Câu, sông tràn máu địch,
Đan Xá thây chồng đỉnh núi cao.
Cứu binh, hai đạo quân Tàu,
Nát tan có một tên nào thoát đâu.
Rồi ... khắp nơi bảo nhau cởi giáp,
Tướng xin hàng cúi rạp van cầu.
Hiếu sinh lấy Đức làm đầu,
"Võ Thần Bất Sát" là câu ghi thường.
Trải qua gần sáu trăm năm, bài văn “Bình Ngô Đại Cáo” vẫn xứng đáng được coi như là một “Kim Cổ Hùng Văn”.


* Tiếng Trống Hà Hồi

Năm 2005 là một năm có nhiều dấu hiệu có những thay đổi lớn lao trên thế giới. Với những tiến triển về khoa học trong hậu bán thế kỷ thứ hai mươi, đặc biệt về những phát minh liên hệ tới kỹ thuật truyền thông và điện tử, với sự cải tổ hệ thống tiền tệ ở Âu châu, sự tăng trưởng nhân số ở Á châu, và những rối loạn chính trị ở Trung Đông, cho ta thấy là trong tương lai, sự thay đổi những thể chế chính trị ở các nước xưa nay được coi như là thuộc thành phần Thế Giới Thứ Ba, sau những Thế Giới Tự Do và Cộng Sản, sẽ không còn là những sự thay đổi cục bộ nữa mà sẽ là những bước đi trên một bàn cờ quốc tế, hiện nay chỉ còn lại thành hai khối đứng đầu bởi Hoa Kỳ và Trung Cộng.

Qua hai ngàn năm lịch sử, ta đã thấy mưu toan thôn tính Việt Nam của Trung Quốc và giờ đây với vị trí chiến lược của Việt Nam, là nơi có thể dùng làm căn cứ quân sự Hải và Không Quân để kiểm soát tất cả mọi di chuyển chiến lược hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, cộng thêm sự phát hiện của năng lượng dự trữ dầu hoả trên thềm lục địa dọc theo bờ biển, càng làm cho Việt Nam thành một quốc gia được thế giới chú ý tới. Muốn cho đất nước ta thoát khỏi ảnh hưởng tàn bạo và thâm độc cũa phương Bắc, lối thoát độc nhất phải là toàn dân liên kết, trong và ngoài nước chống mọi thể chế độc tài, và tranh đấu để thực hiện tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước.

Muốn vươn lên và trở nên thịnh vượng, Việt Nam phải từ bỏ chế độ cộng sản, xây dựng một nền kinh tế thị trường, và trở thành đồng minh của các nước tự do dân chủ. Cách đây hơn bẩy thế kỷ, vào năm Ất Dậu (1285), một quân dân Việt Nam anh dũng đã đẩy lui được sự xâm chiếm lãnh thổ của Bắc phương. Những bọn Việt gian tội đồ của dân tộc như Trần Di Ái đều bị người đương thời nguyền rủa. Nếu năm Ất Dậu phá quân Nguyên được ghi vào sử xanh như là một mốc thời gian oai hùng thì một năm Ất Dậu khác, là năm 1945 lại là một năm đau thương trong Việt sử.

Một trận đói kinh hoàng đã bao phủ một màn tang trên đất nước, với hơn hai triệu người thảm tử. Nhưng đau đớn hơn nữa cho dân tộc là năm ấy cũng là năm Việt Minh cướp chính quyền bắt đầu ngự trị trên đất nước cho đến năm 2005 là tròn một kỷ, 60 năm đất nước lầm than. Lịch sử của nước ta lúc nào cũng theo một nhịp độ tuần hoàn, hết suy trở thành thịnh, và năm Ất Dậu 2005 phải là năm bắt đầu một cuộc phục hưng cho Việt Nam trước sự thoái lui và bại vong của cộng sản, trải qua bao nhiêu năm thống trị trên quê hương, tội ác đã chất chồng. Tiếc thay, trước khi tàn lụi, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cúi đầu, che mặt, mặc cho Trung Cộng lấy trọn vẹn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối năm 2007, dựa lên những văn kiện bán đất nhượng biển bọn cầm quyền đã ký kết khi xưa theo lệnh của quan thầy.

Để kết luận bài này, và cũng để gây niềm hy vọng, chúng ta nhớ lại một năm Dậu khác là năm Kỷ Dậu (1789) cũng là một năm ghi lại một chiến tích hào hùng của dân tộc.

Cuối đời nhà Lê (1428-1788), vua tôi hèn kém, đất nước lâm vào cảnh Nam Bắc phân tranh, trong nước có vua lại có chúa, ngoài Bắc có loạn kiêu binh, trong Nam thì quyền thần lấn áp, thật là một thời đại loạn. Gặp thời buổi nhiễu nhương, anh em nhà Tây Sơn ở Bình Định đã khởi binh để lập nên một triều đại mới. Nhà vua cuối cùng của triều Lê là Lê Chiêu Thống lại hướng về ngoại bang sang cầu cứu vua nhà Thanh bên Tàu đưa quân sang dẹp nhà Tây Sơn. Vua Càn Long nhà Thanh, nghe theo lời mật tấu của Tôn Sĩ Nghị là Tổng Đốc Lưỡng Quảng, xuống chỉ sai họ Tôn đem quân sĩ bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúy Châu và Vân Nam sang đánh Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, sai quan Tổng binh tỉnh Vân Nam và Qúy Châu đem một đạo qua ngả Tuyên Quang, Tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đem một đạo qua ngả Cao Bằng còn mình thì cùng với Đề đốc Hứa Thế Hanh dẫn đại binh qua ải Nam quan theo đường Lạng Sơn giáp công tiến về thành Thăng Long, lực lượng quân Thanh có tới hơn hai mươi vạn tinh binh.

Tổng Trấn kinh thành là tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, thấy thế địch mạnh, sợ chống cự không nổi nên theo lời bàn của Lại bộ tả thị lang là Ngô Thời Nhiệm rút quân về Ninh Bình, đóng giữ từ núi Tam Điệp ra tới bờ bể rồi sai người về kinh đô Phú Xuân cáo cấp. Trong khi ấy thì ở Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị tự coi mình như là Giám quốc, để vua Chiêu Thống hàng ngày sang dinh chầu chực đợi lệnh, văn thư trình báo phải để niên hiệu Càn Long, nước Nam coi như đã thực sự mất quyền tự chủ.

Trong ba anh em nhà Tây Sơn thì có Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ là người dũng khí và có tài thao lược hơn cả nên khi non sông nguy biến, ngoại bang xâm chiếm đất đai, các quan văn võ đều xin Vương lập chính ngôi tôn để ra Bắc chống địch. Ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Cứu binh như cứu hỏa, vua Quang Trung vừa đi gấp kéo quân ra Bắc vừa tuyển thêm binh mã đến ngày 20 tháng Chạp thì tới núi Tam Điệp tổng cộng quân sĩ đưa theo được 10 vạn người và hơn 100 con voi. Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm đều ra tạ tội vì đã rút quân để bảo tồn chủ lực. Vua Quan Trung cười mà nói rằng:

“Quân Thanh sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc binh, đã có chiến lược, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước ta, sau khi thua trận tất chúng lấy làm xấu hổ lại mưu báo thù, như thế đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm viết thư nói khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.”

Nói xong, vua Quang Trung ra lệnh cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, định hôm Trừ tịch thì cất quân đi, tính đến ngày mồng 7 tháng Giêng thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Trận đánh quân Thanh giờ đi vào binh sử như là như là một thế trận được nghiên cứu quy mô, tỷ mỷ, biết quân ta, biết thế địch, xuất quân từ Tam Điệp, hướng về Thăng Long thành, có tiền quân đi tiên phong, hậu quân đi đốc chiến, hữu quân và thủy quân thì đi vòng đường bể, một cánh quân vào sông Lục Đầu tiếp ứng đường mé đông, một cánh quân lên vùng Lạng Giang, Yên Thế để chặn đánh đường quân Tàu chạy về, còn tả quân thì đi đường núi, đem theo tượng binh vòng đánh phía Tây, cũng chia làm hai cánh quân, một cánh đi xuyên qua huyện Chương Đức kéo đến Thanh Trì ở ngoại thành Thăng Long, và một cánh dùng tượng binh theo đường Huyện Sơn Lãng để tiếp ứng.

Trên đường đi, Vương dùng chiến thuật đánh chớp nhoáng, cốt bắt trọn địch quân ở các tiền đồn nên không có tin báo về đại doanh của Tôn Sĩ Nghị. Nửa đêm ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân vua Quang Trung đến làng Hà Hồi ở ngoại thành Thăng Long, vây kín đồn giặc rồi nổi trống công thành, tiếng loa vang rội, quân sĩ dạ rầm cả lên nghe như tiếng muôn người. Quân canh đồn lúc đó mới tỉnh giấc, sợ hãi quy hàng, quân ta thu được toàn bộ quân lương cùng khí giới. Sáng mờ mờ ngày mồng 5, quân Tây Sơn tiến đến làng Ngọc Hồi, quân Thanh hết đường tháo lui đành liều tử chiến, đạn súng bắn ra như mưa. Vua Quang Trung sai người lấy những mảnh ván ghép lại rồi quấn cỏ ướt ở ngoài làm mộc chắn, cho từng toán quân, vài chục người một toán khiêng mộc đỡ đạn cùng tiến dần sát chân đồn rồi tràn vào xung phong chém giết.

Quân Tàu địch không nổi ùa kéo nhau chạy. Quân Nam từ các đạo kéo về đều toàn thắng, giết quân nhà Thanh thây nằm ngổn ngang, máu chẩy như tháo nước. Những tướng nhà Thanh như Tiên phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng, Đề đốc Hứa Thế Hanh đều tử trận. Tri phũ Điền Châu là Sầm Nghi Đống thấy đạo quân mình đóng ở Đống Đa bị tan vỡ, quân Nam vây kín mịt mùng nên sợ hãi quá mà thắt cổ tự tử. Chủ soái Tôn Sĩ Nghị, nửa đêm được tin cấp báo đã hoảng hốt bỏ cả ấn tín tháo chạy không kịp mặc áo giáp và thắng yên ngựa, đem theo mấy kỵ binh phóng qua cầu phao để nổi trên sông Nhị Hà mà vượt sang Kinh Bắc. Quân các trại, khi nghe tin thua trận, chủ tướng đã bỏ chạy cũng tìm đường tẩu thoát, tranh nhau sang cầu, một lát làm cầu phao lật đổ, nhiều người lăn xuống sông, mấy hôm sau sác quân Thanh chết đuối nổi đầy sông Nhị Hà.

Một đạo quân Thanh hùng mạnh như vậy sang xâm chiếm Nam Việt, mà chỉ trong vòng hơn một tháng đã bị thiên tài quân sự Quang Trung phá tan, chỉ riêng đạo quân từ Vân Nam và Qúy Châu kéo xuống dọc theo thung lũng sông Hồng, còn đóng ở miền Sơn Tây thì được thoát nạn, và cũng phải vội vã cuộn cờ xí kéo về Tàu. Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc áo ngự bào nhuộm khói đen thuốc súng. Đến buổi trưa ngày mồng 5 vua Quang Trung vào thành Thăng Long, sớm hơn lời hẹn hai ngày. Người sai tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh cho tới biên giới, khí thế hùng mạnh đến nỗi người dân Tàu bên kia cửa ải phải bỏ nhà cửa theo quân Thanh chạy về miệt Bắc, hàng trăm dặm không còn bóng người.

Trâïn Đống Đa đã kết thúc một giai đoạn tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Từ ngày Việt Minh chấp chánh làm chủ miền Bắc và từ năm 1975 toàn trị trên quê hương, sự nhân nhượng đàn anh phương Bắc càng ngày càng rõ rệt, và trong những năm gần đây Việt cộng đã phải ký giấy nhượng một phần đất đai trên mạn Cao Bằng, Lạng Sơn và hải phận trong Vịnh Bắc Việt cho Trung cộng , và nay lại bị bức bách cúi đầu lặng thinh để cho kẻ địch làm chủ toàn thể Đông Hãi. Bài viết này, nhắc lại những gương sáng của tiền nhân chống lại sự xâm lăng áp bức từ phương Bắc không ngoài mục đích cho thế hệ trẻ nhìn rõ đâu là làn ranh quốc cộng, vì chỉ những người quốc gia chân chính mới đặt quyền lợi của dân tộc trên hết, biết trân qúy từng tấc đất, từng vũng biển của quê hương, không thể mang ra làm vật đổi chác để mua lấy sự che chở cho riêng mình.

Viết những giòng cuối cùng cho bài này, tôi không thể nào không nghĩ đến một bài trường thi gồm có một trăm câu hỏi về văn và sử học Việt Nam của cụ Đào Hữu Dương theo thể thơ lục bát. Hai câu hỏi cuối cùng trong bài thơ là:

99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?

Cảm kích vì công lao sáng tác văn thơ hữu ích của một vị huynh trưởng, tôi đã dùng thể thơ lục bát để viết những câu trả lời, mỗi câu hỏi tôi đã dùng hai câu lục bát mới diễn tả được hết ý. Tôi xin ghi lại dưới đây những câu trả lời của tôi để đáp tạ thịnh tình của độc giả đã kiên nhẫn đọc hết bài này:

99. Quang Trung thần tốc phát binh,
Mùa xuân Kỷ Dậu chiếm thành Thăng Long.
100. Lời ca con cháu Tiên Rồng,
Cộng Nô tiêu diệt, non sông thanh bình.


Toàn Phong  Nguyễn Xuân Vinh