Loading
 
SÙ MŒnh Cûa Ch» Vi‰t

Tham luận

Sứ mệnh của chữ viết là ghi lại hồn của tiếng nói để hậu thế có thể cảm nhận được tâm tư của tổ-tiên đặng còn rút tỉa kinh-nghiệm sống thì mới tiếp nối được dòng sinh-mạng của dân tộc.

Một dân tộc lạc hồn thì sống cũng như chết; đó là dân tộc nạn vì đã đánh mất bản-sắc của dân tộc mình. Muốn tạo được bản-sắc dân tộc thì cần ít nhất là một ngàn năm. Chữ viết không đáp ứng được nhu cầu này là loại chữ vô dụng, phát được âm nhưng không hiểu được ý của bản văn, hoặc hiểu sai thong điệp người xưa thì có cũng như không.

Sự quan trọng của tiếng nói

Tiếng nói là một phần rất quan-trọng của văn-hóa dân tộc nên chữ viết bắt buộc phải ghi được cái hồn của câu văn thì mới có giá-trị. Vì thế nên mặt trận Văn-Hóa, tuy âm thầm nhưng quyết liệt; do đó kẻ thống trị luôn luôn tìm đủ mọi cách để kẻ bị trị không còn biết gì về lịch-sử và tâm-tư của tổ-tiên họ, đồng thời phỉ báng nếp sống của tổ-tiên mình để đi ca tụng văn-hóa của kẻ thù dân tộc như ông Hồ và đồng bọn.

Bằng cớ là Hồ Chí Minh đã biến tiếng Việt thành tiếng nói của dân hạ-đẳng. Ông ta đã hạ lệnh bỏ gạch nối, thay chữ cái y bằng chữ cái i, Bội Vận PH bằng F... Do đó chúng ta thấy chữ viết lung-tung, ý nghĩa sai lệch như câu "Bác Hồ  thích váy đầm" lại biến thành "Bác Hồ thích vái đầm" thì mới là con người Cộng Sản chân-chính! Nay điều chỉnh lại là điều chúng ta phải làm.

Về phần dân ta, vì trót hấp-thụ nền Văn-Hóa Thực-Dân nên đã có rất nhiều người lớn tiếng phụ-họa với bác Hồ là chữ Quốc-Ngữ không có quy-luật, rồi mạnh ai nấy đẻ ra quy-luật của mình để chứng tỏ là mình biết nhiều tiếng nước người, biến tiếng Việt thành đa âm. Hiện-tượng này đã xảy ra và rất nguy-hiểm mà không ai hay biết, vì nó soi mòn dần dần sức sống của dân Việt. Bằng cớ là không ai còn dùng quy-luật của gạch nối nữa nên ta cứ lẫn lộn chữ Việt Gốc với chữ Việt Lai (Tây hay Tầu). Đã đến lúc chúng ta phải nói đến quy-luật của tiếng Việt, biết đến đâu nói đến đấy, thì tự động chữ viết bắt buộc phải theo những quy-luật này.  Hiện nay chúng ta đang dùng loại chữ mang danh xưng là Quốc-Ngữ. Muốn ghi được hồn của tiếng Việt thì chữ này bắt buộc phải viết theo quy-luật âm-vận của tiếng nói. Quy-luật nầy đã có từ ngàn xưa. Không thể viết ẩu rồi nói rằng chữ này mới có hơn 100 năm, chưa có quy luật nên mạnh ai nấy đặt ra quy-luật riêng được. Điều đáng buồn là thế hệ chúng ta, có những người học nhiều biết rộng nhưng lại không hiểu tiếng Việt nên đòi viết dính thành tiếng đa âm như Tây như Mỹ, hô-hào thay đổi chữ viết để người Tây Phương dễ đọc! Vì thế nên dân ta mới tiếp-tục lún sâu mãi vào con đường mất gốc, tụt hậu.

Quy-luật tiếng Việt

Muốn ghi âm tiếng Việt bằng bất-cứ ký-hiệu nào thì bao giờ cũng phải tôn trọng cấu-trúc của câu văn Việt thì mới là người Việt nói tiếng Việt; còn không là tiếng Việt lai-căng không rõ và khó hiểu.

Quy-luật chuyển ngữ:

Dân tộc nào cũng vậy, khi giao-tiếp với nước ngoài thì bao-giờ cũng phải chuyển tiếng nước người sang tiếng nước mình, đó là hiện-tượng giao-lưu văn-hóa.

Chuyển ngữ chỉ có 4 cách chính mà chúng ta phải tôn trọng là:

1.Việt-hóa: Biến hoàn-toàn sang tiếng nuớc mình như: Stylo à bille gọi luôn là bút chì nguyên-tử

2.Chuyển âm: Biến âm tiếng nước người sang âm tiếng nước mình như Savon gọi là sà-phòng (có gạch nối và dùng chữ S chứ không phải X, vì Savon viết S).

3.Chuyển nghiã: Máy Photocopieur thì gọi là máy sao-chụp; tức sao y bản chánh bằng cách chụp hình (gạch nối bắt buộc vì là chữ viết tắt của một câu).

4.Dùng nguyên con: Như thủ đô nước Nga thì viết MOSKVA và đọc theo âm của người Nga.


Quy-luật gạch nối:

Trường-hợp thông-thường

Cấu-trúc câu văn tiếng Việt thì lúc nào cũng là tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước. Vì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm nên lắm khi một âm không có nghĩa mà cả nhóm chữ đó mới có một nghĩa thì bắt buộc phải dùng gạch nối để nói rằng cả bấy nhiêu chữ mới có một nghĩa, nhưng khi đọc thì phải tách rời chứ không được đọc kẹp díp như tiếng đa-âm.

- Tỷ-dụ như chữ lôi-thôi, bì-bõm, cà-tưng, cà-chớn, bùng-binh, lép-bép, lạch-tạch-đùng...

- Hoặc thấy cụt khó nghe nên thêm vào một chữ vô nghĩa như chùa-chiền, chợ-búa,... trường hợp này cũng phải dùng gạch nối.  

Trường-hợp chuyển ngữ

Tiếng nước người được dùng trong tiếng Việt thì theo 4 cách như đã nói ở trên; kể cả chữ mà chúng ta quen gọi một cách sai nhầm là tiếng Hán Việt.

Riêng cách chuyển âm nếu viết suôi mà tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước thì không cần gạch nối. Còn viết suôi mà nghĩa ngược, tiếng trước bổ nghĩa cho tiếng sau thì phải có gạch nối để tôn trọng câu văn và đồng thời vẫn giữ được hồn của tiếng Việt.
- Tỷ-dụ người Việt nói: con ngựa trắng, con ngựa đen. Đen tuyền, trắng đốm đen hay trắng toát được dùng để bổ nghĩa cho con ngựa mang màu gì. Chữ tuyền bổ nghĩa cho màu đen và chữ toát bổ nghĩa cho màu trắng. Người Việt không ai nói trắng tuyền hay đen toát cả vì nó không thuận tai. Nhưng ông Tây, bà Đầm, vì không có hồn Việt nên nghiễm-nhiên nói đen toát, trắng tuyền.
- Người Tầu nói con trắng ngựa (bạch mã), chữ trước bổ nghĩa cho chữ sau. Như vậy khi chuyển âm sang tiếng Việt thì phải có gạch nối để chỉ cả nhóm này mới có một nghĩa như con Bạch-Mã, Tiền-Nhân, hay Sà-phòng đi từ chữ savon của Pháp hoặc công-ti đi từ chữ compagnie (họ dùng chữ i nên phải viết là ti chứ không phải ty).

Quy luật âm-vận

Âm-vị:
Tiếng Việt không có âm-tiết mà chỉ có âm-vị thôi. Tiết là đốt, còn vị là chỗ đứng

Âm-vận:
Trong tiếng Việt mỗi âm-vị thường có 2 âm-vận. Đây là mấu chốt của quy-luật âm-vận để viết cho đúng cách. Hai vận đó được gọi là Bội-vận và Chính-vận.

Bội-vận và Chính-vận:
Bội-vận là vần đi trước chính-vận để đổi âm của chính-vận thành âm của một âm-vị. Còn Chính-vận là vần đi sau. Không có chính-vận thì không có âm-vị. Ngược lại không có bội-vận thì chính-âm đã tạo được âm-vị rồi.

Muốn viết kiểu nào thì viết, tiếng Việt lúc nào cũng có âm-vị , và trong một âm-vị có 2 âm-vận đó là Bội-vận và Chính-vận. Theo cách viềt mẫu tự LATIN thì:

- Bội-vận là sự tập hợp của các phụ-âm. (thí dụ: ch, th)
- Chính-vận bắt đầu từ nguyên-âm đến hết chữ (1 chữ đầy đủ) (thí dụ: than, thì "an" là chính vận; th là bội vận)

Chính-âm và biến-âm:

Chính-âm là âm chính (chữ không có dấu), còn biến-âm là chữ có dấu. Âm-vị không mang dấu thì gọi là chính-âm; âm-vị có dấu thì gọi là biến-âm. (thí du: than là " an" là chính âm,  "âu" là biến âm)

Bảng-mã chữ Quốc-Ngữ

Sự trùng hợp kỳ lạ:

-Chữ Việt Thường ở Thanh Hóa được dùng để ghi âm tiếng Việt có tất cả 35 ký-hiệu. Chữ Quốc-Ngữ sinh sau đẻ muộn cả mấy ngàn năm mà cũng chỉ có 35 ký-hiệu thôi.

-Không biết là ngẫu-nhiên hay các vị cố đạo Tây Phương đã chuyển ký-hiệu Việt Thường sang ký-hiệu Latin cho người Tây Phương dễ nhớ và dễ đọc? Mỗi ký-hiệu có chức-năng của nó nên phải phân loại cho rõ-ràng thì dùng mới đúng cách.

22 chữ cái chính lấy từ bảng-mã Latin là: A, B, C, D, E, G, H, I, Y, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V và X. 


7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là: Đ, Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.

5 cái dấu hiệu bằng tay dùng để biến âm của chính-vận là: Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.

Bảy chữ cái có dấu:
Bảy chữ cái biến dạng là:
* đ: đi từ chữ gốc là.... d
* ă và â : đi từ chữ gốc là.... a
* ê: đi từ chữ gốc là.... e
* ô và ơ : đi từ chữ gốc là.... o
* ư : đi từ chữ gốc là... u

Cách phát âm của 7 chữ có dấu (ra dấu bằng môi và lưỡi):
* đ thì phát âm như d, nhưng lấy lưỡi đưa lêm hàm răng trên chặn âm lại (dấu gạch ngang đầu chữ).
* â thì phát âm như a, nhưng chúm môi lại (dấu mũ, đúng ra là dấu nón chóp) ă thì phát âm như a, nhưng ngoác môi ra (tức há hốc mồm ra, dấu á).
* ê thì phát âm như e, nhưng chúm môi lại;
* ô thì phát âm như o, nhưng chúm môi lại.
* ơ thì phát âm như o, nhưng chỉ hé môi bên phải thôi (dấu ria mép phải).
* ư thì phát âm như u, nhưng chỉ hé môi bên phải thôi (dấu ria mép phải).

Dấu của chính-vận:

Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã và Nặng.

29 chữ cái trên chỉ đủ để ghi các chính-âm, nhưng chưa đủ để ghi hết các âm-vị của tiếng Việt. Để dễ dàng trong việc học cách phát âm, người ta thêm 5 cái dấu ra hiệu bằng tay để biến chính-vận thành âm vị. Đó là dấu HUYỀN, SẮC, HỎI, NGÃ và NẶNG

Huyền: có nghĩa là giữ nguyên giọng nhưng kéo dài ra.
Sắc: có nghĩa là đọc cao vút lên.
Hỏi: có nghĩa là đọc giật giọng như hỏi người ta.
Ngã: có nghĩa là ngân ra bổng trầm như trái banh rơi xuống rồi nảy lên.
Nặng: có nghĩa là đọc dằn giọng như quả nặng kéo âm xuống.

Rõ ràng âm điệu tiếng Việt có 3 âm-giai, chứ không phải chỉ có 2 âm giai như tiếng Tầu là Bằng và Trắc. Ba âm-giai đó là: Không dấu và dấu huyền. Dấu sắc và dấu hỏi. Dấu ngã đi với dấu nặng.

Phân loại

29 chữ cái (ký-hiệu chính) được chia làm 2 loại là: Phụ-âm và Nguyên-âm.

Phụ-âm là ký-hiệu tự nó không phát ra âm được; phải đi với nguyên âm mới phát được ra âm. (mới đọc được chữ đó. Thí dụ: canh. Nếu không có nguyên âm a trong chữ "canh" thì không thể nào phát âm được chữ "canh")  Do đó mỗi phụ-âm đều có 2 cách phát âm, theo chữ cái và theo bội-vận tùy theo chỗ đứng của nó.

Nguyên-âm là tự nó đã phát ra âm rồi; nhưng có 2 loại nguyên-âm cần phải phân biệt cho rõ thì mới ghi được hồn của tiếng nói. Đó là: nguyên-âm vô nghĩa và nguyên-âm có nghĩa. Chữ Ă, chữ Â và chữ i thuộc loại nguyên âm vô nghĩa. Chữ U lúc thì có nghĩa, khi thì vô nghĩa.  Các chữ cái thuộc phụ-âm được phát âm theo dạng ký-hiệu như sau:
Viết:  B - C -  D - Đ - G - H - K -  L  -   M  -     N   -  P-  Q - R  -  S  -  T - V -   X.
Đọc: Bê, Cê,Dê, Đê,Gê,Hát,Ca,ELlờ,EMmờ,ENnờ,Pê,Cu,ERờ,ESsì,Tê,Vê, ÍCHxì,

Nhưng khi ghép với các chữ khác để thành âm-vị thì nó thuộc về bội-vận và phát âm như sau:

Viết: B - C -  D - Đ - G -  H -  K -  L -   M -  N - P - Q - R -  S  - T - V - X

Đọc vần:  Bờ, Cờ, Dờ, Đờ,Gờ, Hờ, Cờ, Lờ, Mờ, Nờ, Pờ, ? - Rờ, Sờ, Tờ, Vờ, Xờ  

Bội-vận:

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận được chia làm 3 loại là: Đơn (16), Kép (10) và Đụp (1).

Bội-vận đơn có một phụ-âm: B, C, D, Đ, G, H, K, L, M, N, P, R, S, T, V và X.
Bội-vận kép có 2 phụ-âm: CH, GH, GI, KH, NG, NH, PH, QU, TH. TR.
Bội-vận đụp có 3 phụ-âm: NGH.

Bội-vận:           vần       +   vần      +    vần   =     âm của bội vận 
    CH                                   Cờ             Hờ              CHờ
    GH                                   Gờ             Hờ              GHờ
    GI                                   Gờ              I                 GIờ
    KH                                  Cờ              Hờ              KHờ 
    NG                                  Nờ              Gờ              NGờ
    NH                                  Nờ              Hờ              NHờ
    PH                                    Pờ              Hờ               PHờ
    QU                                   ??                ??               QUờ
    TH                                  Tờ              Hờ              THờ
    TR                                  Tờ               Rờ              TRờ
    NGH           Nờ               Gờ              Hờ             NGHờ

Chính-vận:
Chính-vận bao giờ cũng bắt đầu bằng nguyên-âm. Không có nguyên-âm không thể thành chính-vận được. Chính-vận cũng được chia làm 3 loại: Đơn, Kép và Đụp. Đơn có 1 nguyên âm, Kép có 2 nguyên âm và Đụp có 3 nguyên âm.Tỷ dụ:

Chính-vận đơn: A, AN, ANG, ANH,.. ONG,.. UNG,.. ĂN, ĂNG,.. ÂN, ÂNG.. Chính-vận kép: AI,..EO,.ÊU,.IÊM, ..IẾT,..OI,. OONG, ÔI,...ƠI,...UI,...ƯƠNG, Chính-vận đụp: IÊU,..OAI,..OEO,......UYÊN,..UYU,.. UÔI,...ƯƠI,...

Thứ tự của chính-vận cũng xếp theo thứ tự như bội-vận. Đơn trước rồi đến kép, sau chót là đụp. Bập-bềnh, Khúc-khuỷu, Lắt-léo,.......... Lèo-khoèo, lôi-thôi, Ngoằn-ngoèo, Ngoắt-ngoéo, Ai-oán,  ............Nhiêu-khê, Uyên-bác, Khuỷu tay, Uyển-chuyển.........

Cách phát âm của chính-vận cũng như bội-vận. Tỷ-dụ chữ AN thì gồm vần A + Nờ ,  chữ ANG thì gồm vần A + NờGờ.

Dấu của chính vận: Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã và Nặng
Các dấu này được ra hiệu bằng tay và chỉ dùng cho chính-vận mà thôi. Do đó các dấu phải nằm trên chính-vận chứ không được để trên bội-vận. Theo quy ước thì dấu ở trên hay dưới nguyên âm. Chính vận kép thì để trên hay dưới nguyên âm nào cho thuận mắt thì thôi. Còn chính vận đụp thì để trên hay dưới nguyên âm ở giữa.

Tỷ-dụ:  Tái , Tiá hay Tía cũng được nhưng trên chữ i thì cân bằng hơn. Còn chính-vận đụp thì bắt buộc để ở nguyên-âm chính giữa như: Đuối. Nhiều. Soái. Soại. Tiếu. Toại. Tưới.

Ý nghĩa:
-Chữ Huyền có nghiã là lưng-chừng, lấy tay ra hiệu là-là như vầy. Mới đầu dấu huyền là gạch ngang trên đầu chính vận (-). Về sau vì thuận tay nên người ta phết từ trái qua phải. Như vậy có ý muốn ra hiệu là:
-Chữ à đọc như chữ a nhưng phát âm là-là như thế này này (tức là đều đều)Chữ àng đọc như chữ ang nhưng phát âm là-là như thế này này.
-Chữ Sắc có nghiã là sắc cạnh, the-thé, cao vút từ dưới lên trên. Dấu sắc thì đưa tay thẳng từ dưới lên trên. Mới đầu là dấu thẳng đứng ('), sau vì thuận tay nên phết từ phải xuống trái. Như ý muốn ra hiệu là: Chữ án thì đọc như chữ an nhưng cao vút từ dưới lên trên.
-Chữ Hỏi có nghĩa là đọc giật giọng như hỏi một điều gì đó.
-Chữ Ngã có nghĩa là té nhào, rơi xuống, nẩy lên rồi lại rơi xuống. Vì biểu thị âm điệu trầm bổng liên tục nên dấu ngã mới có hình SIN sõng-soài.
-Chữ Nặng có nghĩa là phải dặn ra mới phát âm được, do đó mới để quả cân ở dưới nguyên-âm để ra hiệu là kéo nó xuống.

Tổng-số âm-vị

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận (đơn, kép và đụp), và tối đa là 900 chính-vận (đơn, kép và đụp)

Đếm kỹ thì thấy tiếng Việt có tất cả 150 chính-vận không dấu, nhân với 6 (5 cái dấu và 1 cái không dấu) thành ra 900 chính-vận, trong đó có chính-vận cụt và chính-vận câm

-Chính-vận cụt là chính-vận chỉ có 2 vần thay vì 6 vần (chữ không có dấu đọc giống chữ có dấu sắc) như AC, AT, ACH, ATH chỉ có ÁC hay ẠT; ÁCH và ẠCH

-Chính vận câm là 6 âm tuy viết được nhưng không thể phát âm được như ĂCH, ÂCH, ĂTH, ÂTH.

Vị chi tiếng Việt có tối-đa 25.200 âm-vị (27 bội-vận+1 cái không bội-vận là: 28x900= 25.200 âm-vị). Tuy chỉ có 25.200 âm-vị nhưng tiếng Việt thuộc loại phong-phú trong khi các dân tộc khác phải có ít nhất là trên 30.000 tiếng thì mới được gọi là đầy đủ để diễn tả tư-tưởng. Sở-dĩ vậy là vì tiếng Việt có rất nhiều tiếng gồm 2, 3 hay 4 âm-vị mới có nghiã như long-tong, bì-bõm, lạch-tạch-đùng hay lạch-tà lạch-tạch, bì-bà bì-bõm; do đó không thể bỏ gạch nối được. Nếu bỏ gạch nối là âm-vị sau bổ nghiã cho âm-vị trước, còn có gạch nối là bấy nhiêu âm-vị mới có một nghĩa.

Tỷ-dụ: Xe-đạp là danh từ riêng để chỉ chiếc xe 2 bánh, phải đạp nó mới chạy (bicyclette); còn xe đạp không có gạch nối là chỉ một loại xe phải dùng chân đạp thì nó mới đi như xe 3 bánh (tricycle), pédalo; để phân biệt với loại xe kéo, xe đẩy, xe máy, xe hơi, xe bò, xe ngựa, xe chó (trượt tuyết).

Rõ ràng là viết theo quy-luật gạch nối thì mới ghi được hồn tiếng Việt, còn bỏ gạch nối là làm tối nghĩa tiếng Việt đi. Đó là điều không nên.

Áp dụng vào cách viết chữ Việt

Thứ tự các âm-vị: Đúng lý ra thì trong tự-điển phải xếp thứ tự theo bội-vận. Chữ nào không có bội-vận thì xếp trước, chữ có bội-vận thì xếp sau. Bội-vận đơn đứng trước bội-vận kép rồi mới tới bội-vận đụp. Chính-vận đơn xếp trước chính-vận kép sau mới đến chính-vận đụp.

Viết hoa: Viết theo người Tây Phương, không tôn trọng quy-luật bội-vận thì chỉ cần viết hoa chữ cái đầu câu là đủ. Như vậy là xếp chữ chứ không phải xếp tiếng Việt theo thứ tự của bội-vận.

Viết như Tây viết chữ Việt thì không thể lột được cái hồn âm-vận trong tiếng Việt. Vì vậy nên, đúng lý ra thì ta phải viết hoa toàn bộ âm-vận đầu tiên của câu văn.

Tỷ-dụ câu "ngao-du khắp nơi" thì phải viết "NGao-du khắp nơi" chứ không phải 'Ngao-du khắp nơi'. Vì bội-vận của nó là NGờ chứ không phải là Nờ. Hay "oai-phong lẫm-liệt" thì phải viết "OAI-phong lẫm-liệt" chứ không phải là 'Oai-phong lẫm-liệt'. Viết như thế là biến chính-vận oai thành chính-vận o.

Bỏ bớt để tránh trùng-nhập:
Vì để tránh lập lại nên chính-vận nào bắt đầu bằng O hay U mà ghép với bội-vận QU đều được đặc-cách bỏ chữ O hay chữ U đi. Tỷ-dụ:
Chính-vận OAI thì biến thành AI như QUai. Tuy viết là AI nhưng nó vẫn mang vần OAI
Chính-vận OĂN thì biến thành ĂN như QUăn. Tuy viết là ĂN nhưng nó thuộc vần OĂN
Chính vận UẨN thì biến thành ẨN; như Luẩn QUẩn. Tuy viết ẨN nhưng nó thuộc vần UẨN.
Chính vận ÚY thì biến thành Ý như QUý. Tuy viết là Ý nhưng nó vẫn mang vần ÚY.

Chánh-tả:

Chánh-tả là viết đúng cách theo quy-luật tiếng nói của người Việt để chuyển hồn Việt trong câu văn từ đời này qua đời khác. Vì vậy không những phải phân biệt ý nghĩa của chính-vận có chữ i và y mà còn phải phân biệt được sự khác biệt giữ các bội-vận sau đây nữa: Dờ và GIờ; CHờ và TRờ, Sờ và Xờ. Một vài áp dụng

Sự khác biệt giữa  i  và  y : 
Hai chữ này không thể nào viết chữ nọ thay cho chữ kia được. Thứ nhất là hình dáng khác nhau, thứ nhì là nguyên-âm có nghĩa (y) và nguyên-âm vô nghĩa (i). Vì thế nên quy-luật như sau:
1.Nếu chỉ có một mình nó bao trùm chính-vận thì phải viết Y như chữ Ty, By, Sy....... Ty cảnh sát, nhưng công-ti xây cất thì viết i là vì đây là chuyển ngữ từ tiếng Pháp qua (compagnie). Chữ compagnie họ dùng i thì bắt buộc ta phải dùng i...... Còn Y phục, Y tế thì phải viết Y, vì nó là chính-vận.
2.Nếu đi với chữ khác mới thành chính-vận được, thì chỉ có 2 loại như sau: Phát âm giống nhau thì để i, như in, tin, tiên, như vậy thì yên ngựa phải viết là iên mới đúng. Nay chúng ta viết yên ngựa là sai. Vì yên thuộc chính-vận iên., như chữ tiên cảnh. Nay không lý lúc thì viết iên lúc lại viết yên hay sao?
Còn phát âm khác nhau thì không có lý do gì để thay chữ nọ bằng chữ kia được. Tỷ-dụ vần ui và vần uy; vần ai và vần ay.....không thể thay vần nọ bằng vần kia được.

Vậy thì chữ Quí, Cúi và Kúi phát âm giống nhau, vì cùng thuộc chính-vận ÚI và bội vận Cờ. Trong 3 âm đó chỉ có 2 âm có nghiã, còn âm kia là âm vô nghiã. Đó là chữ Cúi và chữ Kúi là 2 âm có nghiã. Cúi là hạ đầu thấp xuống không dám ngửa mặt nhìn lên; còn kúi là cuộn chỉ trong nghề dệt vải, con kúi nằm trong con thoi đã hết chỉ rồi.

Còn chữ Quí thì đúng là âm vô nghiã. Nay người ta quen viết: Kính thưa quí vị : như vậy có nghiã là thưa các vị chấp nhận cúi đầu trước bạo lực. Chữ Quý vị thuộc vần ÚY chứ đâu có phải là vần ÚI mà viết i.

Sự khác biệt giữa ch và tr, d và gi, s và x :
Người ta chia nghĩa của tiếng nói ra làm 2 loại: Cụ-thể và trừu-tượng hay động và tĩnh để phân biệt bội-vận Chờ hay TRờ; Dờ hay GIờ, Sờ hay Xờ. Cụ-thể là vật gì có thể nắm bắt được còn trừu-trượng thì không. Động là có sự di chuyển còn tĩnh là trạng thái bất động.

Các chữ có nghĩa thuộc cụ-thể hay ở thể động thì viết CH, S, D . Còn các chữ có nghĩa theo trừu-tượng hay ở thể tĩnh thì viết TR, X, GI.

Bình thường thì:
-Danh-từ thì thuộc loại cụ-thể hay trừu-tượng.
-Tĩnh-từ dùng để bổ nghĩa cho danh-từ nên phần lớn thuộc thể tĩnh; đôi khi ở thể động.
-Động-từ dùng để chỉ hành động bằng chân tay thì thuộc thể động còn bằng trí óc (phê phán) thì thuộc về thể tĩnh. Tỷ-dụ sử-dụng là cầm một vật để dùng vào việc nào đó, còn xử án là dùng lý trí để phê phán việc làm  của bị can thì nó thuộc thể tĩnh. -Trạng-từ dùng để chỉ một trạng thái động hay tĩnh.

Tỷ-dụ:
CHuyền và TRuyền  (Bội vận CH và TR) :
CHuyền  và TRuyền có cùng một nghiã là đem một cái gì từ chỗ này đến chỗ khác. Nếu đem một vật cụ thể từ chỗ này đến chỗ khác thì viết CH như chuyền banh cho nhau, bóng chuyền, chim bay chuyền....
Còn nếu đem quảng-bá tư-tưởng từ chỗ này đến chỗ kia thì viết TR, vì thuộc thể tĩnh như truyền bá tư-tưởng, truyện Kiều.
Chuyện Kiều là kể chuyện (thể động) về nàng Kiều của Nguyễn Du cho nhau nghe; còn TRuyện Kiều là sách viết về cuộc đời nàng Kiều của Nguyễn Du (thể tĩnh).
Nội dung giống nhau nhưng cách truyền đạt khác nhau nên lúc thì viết CH khi thì viết TR.

Dải và GIải (Bội vận D và GI) :
Dải yếm là sợi dây buộc yếm thuộc cụ-thể, nắm bắt được; còn GIải thưởng là phần thưởng, nó là danh-từ thuộc về trừu-tượng không nắm bắt được.

Sinh và Xinh (Bội vận S và X) :
Sinh đẻ ở thể động thì viết S, còn xinh-xắn, xấu-xí vỉ ở thể tĩnh thì viết X. Chữ Xí viết X là vì viết theo bội vận của chữ trước.Vì chữ đi sau gạch nối là chữ vô nghĩa nên phải viết theo chữ có nghĩa, do đó phải viết là X. Chữ Xí là chữ vô nghĩa nên phải viết theo bội vận của chữ Xấu và phải có gạch nối.
Còn bỏ gạch nối thì chữ Xí là cầu tiêu, bổ nghĩa cho chữ xấu. Có nghĩa là chê kiểu này không chọn. Nhà xí: Biến âm của chữ Xia (chất phế thải), vì thế nên viết i chứ không phải y.

Vì thế nên chúng ta vẫn quen viết là cô nữ sinh là cô học trò gái (có sự tăng trưởng về trí tuệ). Còn xinh đẹp thuộc thể tĩnh nên viết X. Con cá Sấu khác với con cá Xấu. Cá Sấu là con thuồng-luồng ăn thịt người; còn con cá Xấu là con cá hình dạng méo mó. 

Tóm lại: Chữ nào thuộc về Cụ-thể có thể cầm nắm được hay thể Động thì viết vần CH, D hay vần S Còn chữ nào thuộc về Trừu-tượng hay ở thể Tĩnh thì viết vần TR, GI hay vần X. Còn chữ nào do-dự không biết xếp vào loại nào thì cho nó vào Cụ-thể. Sự thực thì không có chữ nào có 2 nghĩa để phải do-dự cả.


Huyền-bí TRONG tiếng Việt

Ở trên ta bàn về cách viết chữ Quốc-Ngữ sao cho ghi được hồn của tiếng Việt. Bây giờ xét đến sự huyền-bí của tiếng Việt thì mới thấy tâm hồn người Việt không giống tâm hồn các dân tộc khác. Muốn kết-hợp dân tộc thì bắt buộc người dân Việt phải có tâm hồn Việt (Tâm Việt và Hồn Việt) thì mới hiệp-thông và rung-cảm với nhau được. Còn không thì người Việt coi nhau như ngoại-chủng nên không thể nào kết-hợp với nhau được. w

Âm-giai và âm-vị Về biến-âm thì tiếng Việt có 6 âm chia ra làm 3 âm-giai; còn tiếng Tầu có 4 âm chia làm 2 âm-giai nên không thể nói tiếng Việt từ Tầu mà ra được. Chữ giai có nghĩa là nấc, là bậc. Về âm-vị thì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm, tiếng Tây Phương thuộc loại đa âm nên không thể nói tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Pháp, tiếng Mỹ được. Đây không phải là tự-hào dân tộc mà là sự khác biệt của các chủng tộc trong địa bàn tư-tưởng và tư-duy.

Ghép âm: Người Tầu có ghép chữ vì là chữ tượng hình và tượng ý; còn tiếng Việt có ghép âm vì có âm-vận trong tiếng nói. Như chữ Cỏ là ghép bội-vận của chữ Cây và chính-vận của chữ nhỎ. Cỏ là một loại cây nhỏ. Chữ cổ là cô ấy, Bả là bà ấy, Ổng là ông ấy, Ảnh là anh ấy...Chữ ấy biến thành dấu hỏi.

Huyền-bí của chính-vận Chúng ta vẫn nói thuận mồm và nghe thuận tai những chính-vận sau đây mà không để ý. Đó là sự kỳ-bí của tiếng Việt, nó nằm ngay trong đầu chúng ta. Một vài tỷ-dụ:
Vần ẸP chỉ một vật đang to bé lại (tượng hình) như chữ xẹp; chúng ta không thấy chính-vận nào mang vần ẸP được dùng để chỉ một vật đang bé lại to ra cả. Vần ÌNH chỉ một vật đang bé nở to ra như sình lầy, ngã cái ình, thình-lình, bập-bình, áo rộng thùng-thình...... Chúng ta không thấy chữ nào mang vần ình đang to lại bé lại cả. ỈVần OĂN chỉ một vật không thẳng, chúng ta cũng không thấy chính-vận OĂN nào được dùng để chỉ một vật thẳng băng, căng thẳng cả.
Vần à - ẠCH chỉ động tác chậm chạm, đố quý vị tìm thấy âm-vị có chính-vận à-ạch được dùng để chỉ động tác nhanh nhẹn. Vô kể các chính-vận như vậy, suy nghĩ sẽ thấy ngay, không cần diễn giải.

Nói lái:
Nói lái tức chuyển âm. Chuyển âm là vần chữ này thay cho vần chữ kia (đổi chỗ hay hoán vị). Chúng ta chỉ có 3 cách chính về chuyển âm là:
1.Chuyển chính-vận (bội-vận để nguyên như cũ)
2.Chuyển chính-âm (dấu để nguyên như cũ)
3.Chuyển chính-âm của chính-vận (bội-vận và dấu để nguyên như cũ)
Đặc-biệt là trong 3 cách nói lái êm tai đó chỉ có một cách là có ý nghĩa.
Tỷ-dụ: CHà đồ NHôm chuyển thành:
CHôm đồ NHà (bội-vận để nguyên: có nghĩa)
NHồm đồ CHa (dấu để nguyên : vô nghĩa)
CHồm đồ NHa (bội-vận và dấu để nguyên: vô nghĩa)

Đầu Tiên chuyển thành:
Điên Tầu (bội-vận để nguyên: vô nghĩa)
Tiền Đâu (dấu để nguyên : có nghĩa)
Điền Tâu (bội-vận và dấu để nguyên: vô nghĩa)

Lộng Kiếng chuyển thành:
Liếng Kộng (bội-vận để nguyên: vô nghĩa)
Kiệng Lống (dấu để nguyên: vô nghĩa)
Liệng Kống (bội-vận và dấu để nguyên: có nghĩa)

Nói láy:
Nói láy tức điệp âm, nhắc lại âm đã nói. Vì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm nên đôi khi phát âm ra thì thấy thiêu thiếu, chưa êm tai nên phải thêm một âm vô nghĩa cho êm tai. Mục này cho ta thấy rõ sự quan-trọng của gạch nối. Gạch nối được dùng để tránh hiểu nhầm là âm-vị sau bổ nghĩa cho âm-vị trước.
Tỷ-dụ chợ-búa khác với chợ búa là cái chợ chuyên bán búa.

Bốn cách chính của nói láy là:
Điệp chính-âm: Điệp chính-âm là nhắc lại âm-vị không dấu như quả bóng thì nói là quả bong-bóng, mầu hơi đỏ thì nói là màu đo-đỏ, hay thiếu thì nói là thiêu thiếu,.....
Điệp âm-vị: Điệp âm-vị là nhắc lại nguyên vẹn âm đã nói như: ầm-ầm, rầm-rầm, xanh-xanh, vàng-vàng, dần-dần, tà-tà, từ-từ, xè-xè, cà-phê cà-phiếc hay cà-phê cà-pháo. Cà-phê là chuyển âm từ chữ Café (tiếng Pháp), nếu không có gạch nối thì cà phê thuộc một loại cà như cà pháo, cà ghém, cà chua vậy.

Điệp chính-vận: Điệp chính-vận là nhắc lại chính-vận của tiếng vừa nói như lắp-bắp, long-tong, lụp-xụp, le-te, lẹp-xẹp, lép-bép,.....
Điệp bội-vận: Điệp bội vận là nhắc lại bội-vận của tiếng vừa nói như bàn-bạc, bồ-bịch, bún-biếc, phở-phiếc, lễ-liếc, suôn-sẻ, ngơ-ngác, nhấp-nhô, nghỉ-nghơi (chứ không phải ngơi)........

Kết luận

Như đã trình bày sơ lược ở trên, chúng ta thấy ngay là việc tôn trọng quy-luật của âm-vận, của gạch nối; của cách viết hoa và cách xếp chữ theo thứ tự của bội-vận cùng cách phân biệt chữ i với chữ y, bội-vận D với GI, CH với TR và S với X là rất quan-trọng trong việc dùng chữ Quốc-Ngữ để truyền đạt hồn của tiếng Việt cho nhau và cho hậu-thế biết rõ bối cảnh lịch-sử của thế-hệ chúng ta ngày hôm nay.

Trong thực-tế chữ Quốc-Ngữ là loại chữ tượng thanh, tự nó đã không ghi nổi cái hồn của tiếng nói như những loại chữ tượng hình và tượng ý. Nay ta lại viết ẩu-tả thì làm sao có thể ghi lại được cái hồn của tiếng Việt?.
Do đó viết theo quy-luật về âm-vận của tiếng Việt là điều rất cần phải chú ý.  Đúng lý thì phải có viện hàn-lâm quy tụ các người nghiên-cứu tiếng Việt nhưng bây giờ, như chúng ta đều biết, làm sao trông chờ được ở nhà cầm quyền đương thời.
Tốt hơn hết là hãy khai dụng thời đại thông tin thuận tiện hiện nay, sách in dễ dàng, phổ biến mau lẹ nên thiết nghĩ là làm được đến đâu thì chúng ta cứ mạnh dạn góp ý đến đó. Không nên có tinh-thần chờ đợi người khác làm rồi mới phụ-họa theo. Nên có tinh-thần đề-xướng, bắt tay vào việc rồi lắng nghe, phục-thiện thì dần-dà sẽ cùng nhau hoàn chỉnh được chữ Quốc-Ngữ. Có bột mới gột nên hồ. Đừng nghĩ là mình bất tài, cứ bắt tay vào việc thì sẽ thấy mình cũng có khả năng như người khác vậy; miễn sao có thiện chí và tôn trọng ý kiến người khác là đủ.  Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão, vạn sự khởi đầu nan mà.

Mong lắm thay.

Hoàng Đức Phương

Hội Văn Hóa Việt Nam tại Anh Quốc
Copyright © 2011
hdvh11