Thập tải luân giao cầu cổ kiếm 
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
 

Mười năm xuôi ngược giao du cốt t́m thanh kiếm cổ 
Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai 


Cụ Chu Thần, tức Cao Bá Quát, một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam, người tự phụ riêng ḿnh chiếm đến hai trong bốn bồ chữ của thiên hạ, đă thốt lên hai câu thơ trên. Hoa mai có những đặc tính nào mà đă dành được sự tôn kính của nhà nho kiêu ngạo, từng xem khinh cả vua lẫn quan như vậy? 

Có thể nói, trong các loài cây, kể cả cây có hoa hay không, mai là loài được ưa chuộng nhất từ xưa đến nay. Người đời thường bị quyến rũ bởi sự tương phản của mai: Tuy có thân và cành gầy guộc, có hoa mỏng manh, và mang hương thơm dịu dàng, thanh khiết, nhưng ở bên trong mai là cả một sự kiêu dũng. Chính sự kiêu dũng này đă giúp mai vượt qua được mưa gió sương hàn của mùa đông để đơm hoa kết nụ khi xuân về. Các nhà nho xem mai là tấm gương cho loài người về sự ḥa hợp giữa chữ Nhẫn và chữ Dũng. 

Đă kiêu dũng, có hương thơm, lại nở sớm nhất trong các loại hoa xuân nên mai được tôn phong địa vị bách hoa khôi. Mai được gộp chung với tùng và trúc thành bộ "tam hữu". Sư gộp chung này bắt nguồn từ sách Luận ngữ: "Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn" (bạn có ích gồm ba hạng: ngay thẳng, rộng lượng, và hiểu biết nhiều). Người xưa thường ví von ba loại cây này là ngự sử mai, trượng phu tùng, và quân tử trúc. Ngoài ra, mai c̣n được kết hợp với lan, cúc, và trúc thành bộ tứ quư để biểu tượng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Trong thơ văn, mai thường được dùng để ví von cho phẩm chất của người quân tử. 

Đối với cụ Chu Thần, có lẽ trong suốt quăng đời bôn ba khắp chốn để cầu cổ kiếm (hay để xây dựng nghiệp bá vương?), cụ không hề gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử". V́ vậy, theo thiển ư, "nhất sinh đê thủ bái mai hoa" là lời xưng tụng của cụ dành cho loại bách hoa khôi, đồng thời cũng hàm ư rằng anh hùng trong thiên hạ chẳng ai xứng để họ Chu này bái phục. Rơ là khẩu khí của Chu Thần. 

Được như mai há phải là chuyện dễ? 


Các Loại Hoa Mai 

Mai có nhiều chủng loại. Người Trung Hoa đă t́m ṭi nghiên cứu và phân mai ra đến gần 250 loại khác nhau. Trong các loại này, hầu hết có hoa năm cánh nhưng cũng có loại mang đến cả trăm cánh, xếp thành nhiều tầng. Tuy nhiên, để đơn giản hóa, nhiều người chia mai thành 4 loại tùy theo mầu sắc: hoàng mai, bạch mai, hồng mai, và thanh mai (mầu phớt xanh). Tại Việt Nam, có hai loại đặc biệt thường được xếp riêng các loại mai khác là mai tứ quư và song mai. 

- Mai tứ quư là loại mai có 5 cánh mầu vàng nhưng thường được liệt vào loại hoa đỏ v́ khi tàn, các cánh hoa rơi rụng rồi năm đài hoa đổi thành mầu đỏ, úp lại ôm lấy nhụy, trông giống như nụ hoa vừa nhú. Nhụy bên trong kết hạt rồi hạt to dần, đẩy 5 đài hoa bung ra trông như hoa mai đỏ vừa nở. Hạt ở giữa các cánh hoa có mầu xanh khi c̣n non và đổi sang mầu đen khi già. V́ vậy, mai tứ quư cũng được gọi là nhị độ mai, tức mai nở hai lần, trước vàng sau đỏ. Loại mai này được nhiều người ưa chuộng v́ nở hoa quanh năm. 

- Song mai là giống mai đặc biệt có nhiều ở huyện Thanh Tŕ miền Bắc. Hoa có mầu trắng, ra hoa và kết trái từng đôi nên được gọi là song mai. 

Ngoài ra, có một số hoa vẫn thường được liệt vào loài mai mặc dù không cùng họ với mai.
Đó là nhất chi mai, mai mơ, và mai chiếu thủy. 

- Nhất chi mai có mầu đỏ hồng, thường gặp ở miền Nam. 

- Mơ là loại hoa có mầu trắng hồng, sau kết thành trái, và mọc nhiều ở miền Bắc. Hoa mơ được nhiều nguời gọi là mai và được nhắc đến nhiều trong thi ca như "thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái" (Chu Mạnh Trinh), "rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi" (Nguyễn Bính), và "càng mưa phùn gió lạnh, càng lạnh càng hoa mơ" (Quang Dũng). 

- Mai chiếu thủy là cây đa niên, gốc to, cành nhánh nhiều, lá mọc thành đôi, và có hoa chùm nhỏ li ti mầu trắng tuyền. Hoa luôn luôn hướng xuống dưới nên được gọi là mai chiếu thủy. Hoa có hương thơm dịu dàng, thanh khiết. 

Thuở trước, tại miền Bắc, các cụ ta trồng mai như một thứ cây cảnh chứ không chưng mai trong nhà vào dịp tết như người dân miền Nam sau này. Tại miền Nam, mai được chưng bầy trong ngày tết là loại mai vàng, chỉ mọc từ Quảng B́nh trở vào. Khi nhắc đến mai, người Việt, nhất là nguời miền Nam, thường nghĩ đến loại mai vàng này. 

 




Mai Trong Thi Ca 

Nghệ thuật thưởng mai chắc chắn đă phát xuất từ Trung Hoa. Theo sử sách, từ thời Xuân Thu, người dân ở đất Tây Chu đă trồng mai như một thứ cây cảnh. Dần dần người Trung Hoa xem mai tượng trưng cho khí tiết của dân tộc họ và nâng mai lên hàng quốc hoa. Sau đó, thú thưởng mai lan sang những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. 

Từ ngàn năm trước, hoa mai đă khơi nguồn cảm hứng cho biết bao thi nhân. Hoa mai được nhắc nhở trong thi ca của người xưa, cả ở Trung Hoa lẫn Việt Nam, thường là loại mai trắng. Đó là loại mai được nhắc đến trong thơ Trương Thuyết đời Đường: 

Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết 
Kim niên Kế Bắc tuyết như mai 


Năm ngoái ở Kinh Nam (nay thuộc tỉnh Hồ Quảng), hoa mai trắng như tuyết 
Năm nay ở Kế Bắc (nay là Bắc Kinh), tuyết trắng như hoa mai 
Không như hầu hết các giống mai vàng ở phương Nam, loại mai trắng ở Trung Hoa và miền Bắc nước ta có mùi hương dịu dàng, thanh khiết, chẳng hạn như mùi hương của rừng mai nơi cung Dao Tŕ thuở xưa: 

Dao Tŕ bất thị tuyết 
Vị tiểu ám hương lai
 
(Cổ thi) 

Nh́n về cung Dao Tŕ (thấy một mầu trắng nhưng) biết không phải là tuyết 
V́ có phảng phất mùi hương (thơm) 
Lư Mai Pha, một thi nhân đời Tống, đă so sánh mai và tuyết qua hai câu: 

Mai tu tốn tuyết tam phân bạch 
Tuyết khước thâu Mai nhất đoạn hương 


Mai nên nhường tuyết ba phân trắng 
Tuyết phải thua mai một bậc thơm
 

Về h́nh dáng, loại mai trắng trong thơ cổ của Trung Hoa và Việt Nam trông giống như giống mai mù u, hiện c̣n một cây trong vườn chùa G̣ ở Phú Lâm, ngoại ô Sài G̣n. 

Trong văn học Trung Hoa, có lẽ người yêu mai nhất là Lâm Bô, tức Lâm Ḥa Tĩnh (967-1028), sống vào đời nhà Tống. Vị hiền sĩ này tài trí hơn người nhưng chán ghét tục lụy nên ở ẩn trên núi Cô Sơn, xem mai là vợ, hạc là con. Ông chính là tác giả bài thơ Mai Hoa bất hủ, được truyền tụng qua nhiều thế hệ. Bốn câu đầu của bài thơ như sau: 

Chúng phương dao, lạc độc tiên nghiên 
Chiếm tận phong t́nh hướng tiểu viên 
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển 
Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn 


Các loài hoa rơi rụng, chỉ một ḿnh (hoa mai) tươi tốt 
Chiếm cả vẻ đẹp trong khoảnh vườn nhỏ 
Bóng cành thưa đâm ngang ḷng nước trong ở nơi cạn 
Hương thầm thoảng lên dưới ánh trăng hoàng hôn
 

Hai câu thực của bài (câu 3 và 4) được đúc kết lại thành "ám hương phù động ánh hoành tà" và được cụ Giản Chi dịch là "chập chờn hương thoảng, bóng cành xiên ngang". Các thi nhân đời sau đă khen ngợi rằng chỉ với bẩy chữ, câu này đă diễn tả đủ được vẻ đẹp của hoa mai. 

Vương Duy (701-761), một thi sĩ kiêm họa sĩ đời Đường, đă nhắc đến hoa mai qua bài Tạp Thi bất hủ: 

Quân tự cố hương lai 
Ung tri cố hương sự 
Lai nhật ỷ song tiền 
Hàn mai trước hoa vị 


Người từ quê cũ đến 
Hẳn biết những chuyện ở quê nhà 
Ngày đi qua trước cửa buồng thêu 
Có thấy Hàn Mai nở hoa không?
 

Nơi đất khách, gặp bạn cùng quê, nhà thơ không vội hỏi thăm chuyện quê cũ mà hỏi đến cội mai xưa. Cũng vậy, Lư Bạch, trong khi ngồi uống ruợu trên lầu Hoàng Hạc, nghe có người thổi khúc sáo Lạc Mai Hoa, đă bồi hồi nhớ đến bóng mai nơi kinh thành Trường An xa xôi vạn dặm: 

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa 
Tây vọng Trường An bất kiến gia 
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch 
Giang thành ngũ nguyệt "Lạc mai hoa"
 

Thân là người khách đến tận Trường Sa xa vạn dặm 
Trông về phía Tây, nơi thành Trường An, mà không thấy nhà 
Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo ngọc thổi 
Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rụng" ở chốn Giang thành 


Lô Đồng (790-835), một nhà thơ khác đời Đường, đă thi vị hóa hoa mai với người đẹp (hay người đẹp với hoa mai?) trong những câu cuối của bài Hữu Sở Tư: 

Mỹ nhân hề! mỹ nhân! 
Bất tri mộ vũ hề! vi triêu vân ? 
Tương tư nhất dạ mai hoa phát 
Hốt đáo song tiền nghị thị quân 

Người đẹp này! người đẹp! 
Chẳng hay (bây giờ) là mưa chiều hay mây sớm ? 
Một đêm nhớ nhau mai nở hoa 
Trông thấy hoa trước cửa sổ, ngỡ là bóng nàng
 

Bài thơ được nhiều người dịch ra tiếng Việt. Bài dịch hay nhất, theo thiển ư, là bài của Tản Đà với nhan đề "Có Nhớ Ai": 

Hỡi ơi! Người đẹp ta đâu? 
Mưa chiều mây sớm, ai hầu biết ai? 
Nhớ nhau suốt một đêm dài, 
Trước song trắng toát hoa mai lúc nào! 
Ngỡ ḿnh chẳng phải ḿnh sao?
 

Các nhà thơ cổ thường ca ngợi hoa mai v́ vẻ đẹp, v́ hương thơm, và đặc biệt, v́ cốt cách của hoa. Ví von mai với t́nh nhân như Lô Đồng đă là trường hợp ngoại lệ. Ấy thế mà sau Lô Đồng một đời, có một nhà thơ tên Hàn Ốc (844-933) đă so sánh làn da nơn nà, trắng mịn trên bộ ngực của người đẹp với một cánh ... hoa mai. Ông viết: 

Phấn trứ lan hung tuyết áp mai 

Phấn thoa lên ngực như tuyết áp trên hoa mai
 

Quả là táo bạo và độc đáo. 

Ở phương Nam, các nhà thơ của dân tộc ta không hề thua kém các nhà thơ phương Bắc trong lănh vực thưởng thức và ca ngợi hoa mai. Một trong những nhà thơ hết ḷng ưu ái loại hoa này là Nguyễn Trăi, vị khai quốc công thần của nhà Hậu Lê. Cụ đă từng giải thích lư do tại sao ḿnh yêu mai đến thế: 

Ái mai, ái tuyết, ái duyên hà? 
Ái duyên tuyết bạch, mai phương khiết 


Yêu mai, yêu tuyết bởi v́ đâu? 
V́ tuyết trắng, mai thơm và tinh khiết 


Cụ đă từng thổ lộ thú tiêu khiển trang nhă của cụ: 

Hái cúc, ương lan, hương bén áo 
T́m mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn
 

Trong 21 bài "Ngôn Chí", Nguyễn Trăi đă nhắc đến mai qua 8 bài. Điển h́nh như: 

Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng 
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
 
(Ngôn Chí 2) 

Quét trúc, bước qua ḷng suối 
Thưởng mai, về đạp bóng trăng
 
(Ngôn Chí 15) 

Lê Cảnh Tuân, một danh thần trong thời kháng Minh, khi bị quân Minh bắt về giam tại Kim Lăng, đă gửi gấm nỗi nhớ cố hương trong bài "Nguyên Nhật" (ngày đầu năm): 

Lữ quán khách nhưng tại 
Khứ niên xuân phục lai 
Quy kỳ hà nhật thị 
Lăo tận cố hương mai 


Đất khách ngày lần qua 
Xuân đă quay trở lại 
Bao giờ về quê cũ 
Cội mai hẳn đă già

(Nguyễn Ngọc Bảo dịch) 

Đến cụ Nguyễn Du, ḷng yêu mai có lẽ tăng thêm một bậc nữa. Trên đường trở về cố hương sau chuyến đi sứ sang Trung Quốc, cụ đă nán lại Từ Châu và chống chọi với giá buốt suốt ba tháng trời chỉ cốt để ngắm mai nở trên đầu núi: 

Nhượng tận khổ hàn tam duyệt nguyệt 
Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa
 
(Trích Từ Châu Đạo Trung) 

Cố chịu khổ với giá buốt trong ba tháng nữa 
Để được vui mừng ngắm hoa mai nở trên đầu non 


Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ khi cụ đă sử dụng rất nhiều mỹ từ kèm với "mai" trong tác phẩm bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh như lầu mai, tiên mai, mưa mai, sân mai, hồng mai, song mai, trướng mai, hồn mai, giấc mai. 

Tương truyền khi đi sứ sang Tầu vào năm 1813, cụ Nguyễn Du đến thăm một xưởng chế tạo đồ sứ danh tiếng tên Ngoạn Ngọc ở tỉnh Giang Tây. Lúc bấy giờ xưởng đang chuẩn bị chế tạo bộ trà Mai Hạc. Với nhă ư đáng ca ngợi, vị chủ hăng ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề một câu để quảng cáo cho kiểu đồ trà này. Người khác, ở vào trường hợp tương tự, chắc chắn sẽ nghĩ đến câu thơ chữ Hán. Tuy nhiên, quan chánh sứ lại dùng chữ Nôm của nước nhà mà viết nên câu: 

Nghêu ngao vui thú yên hà 
Mai là bạn cũ, hạc là người quen
 

Kết quả là các bộ trà Mai Hạc sản xuất tại Giang Tây trong những năm sau đó có in hai câu thơ Nôm của cụ. Tuy nhiên, v́ không biết chữ Nôm, nên các nghệ nhân Trung Hoa đă ghi sai hoặc ghi thiếu vài nét. Thêm nữa, thay v́ phải viết thành một hàng 6 chữ, một hàng 8 chữ như quy định của thể thơ lục bát, họ lại viết thành ba hoặc bốn hàng với số chữ phân chia như sau: 

6 + 2 + 6 (ba hàng) 

5 + 2 + 5 + 2 (bốn hàng) 

4 + 3 + 4 + 3 (bốn hàng) 

Kể cũng là một giai thoại thú vị. 

Sau thời cụ Nguyễn Du, có một vị thượng thư tên Đào Tấn (1845-1907), sinh quán tại B́nh Định, cũng có thể kể là một bậc cuồng mai. Ông lấy hiệu là Mộng Mai và Mai Tăng (ông sư Mai). Khi về hưu, ông t́m đất đặt mộ cho ḿnh ở núi Mai Sơn, thuộc làng Hoàng Mai (B́nh Định), và cho khắc một bài thơ trên mộ, trong đó có câu:: 

Núi Mai rồi gửi xương mai nhé 
Ước được hoa mai hóa mộng hồn
 


Mai trong Thiền 

Nếu các thi nhân thường làm thơ ca tụng vẻ đẹp và hương thơm của mai, hoặc mượn mai để gói ghém tâm sự hay khí tiết của ḿnh, th́ các thiền sư thường dùng mai làm ẩn dụ để chuyển tải ư đạo, như một thiền sư Trung Hoa đời Đường với bài "Cổ Mai" nêu sau: 

Hỏa ngược phong thao thủy tí căn 
Sương thuân tuyết trựu cổ đài ngân 
Đông phong vị khẳng tùy hàn thử 
Hựu nghiệt thanh hương dữ phản hồn 


Lửa táp, gió lùa, nước ngâm thân 
Sương (như) búa tuyết (như) cưa khắc vết hằn 
Gió đông buốt giá dầu chưa đến 
Vẫn cứ đâm chồi tỏa ngát hương.
 

Phải chăng thiền sư muốn nhắn nhủ chúng ta hăy bền gan vượt qua mọi cám dỗ, mọi thử thách trên đường tu đạo và hành đạo? Công phu đến độ chín muồi th́ tâm ắt sẽ khai hoa, cũng như mai nở sẽ đúng thời khắc sau khi dăi dầu đủ gió mưa sương tuyết. 

Bài Cổ Mai nêu trên khiến chúng ta nhớ đến bài kệ của Tổ Hoàng Bá (?-850), một thiền sư danh tiếng người Phúc Kiến: 

Trần lao quưnh thoát sự phi thường 
Hệ bă thằng đầu tố nhất trường 
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt 
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương. 


Vượt cơi trần lao việc chẳng thường 
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường 
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt 
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
 

Nhiều thiền sư Việt Nam cũng đă để lại cho hậu thế những bài thơ hoặc kệ bất hủ dùng mai làm ẩn dụ như Măn Giác Thiền Sư (1052-1096), Điều Ngự Giác Hoàng (1258-1308), tức vua Trần Nhân Tông, Huyền Quang Tôn Giả (1254-1334), và Tuyết Giang Phu Tử (1491 - 1585), tức Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (nhiều người xem Tuyết Giang Phu Tử là một bậc thiền sư), v.v. Bài thơ (hay kệ) được biết đến nhiều nhất là bài "Cáo Tật Thị Chúng" (cáo bệnh để dậy đệ tử) của thiền sư Măn Giác, đời nhà Lư. Trước khi viên tịch, thiền sư cáo bệnh, đóng cửa thiền pḥng để tham thiền nhập định. Đến chiều tối, ngài thảo bài kệ, bước ra khỏi pḥng, mỉm cười trao cho các đệ tử đang bồn chồn lo lâu cho sức khỏe người thày. Bài kệ trở thành những lời dậy hàm súc nhất của một bậc thiền sư gửi lại cho hậu thế: 

Xuân khứ bách hoa lạc 
Xuân đáo bách hoa khai 
Sự trục nhăn tiền quá 
Lăo tùng đầu thượng lai 
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận 
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

 



Xuân đi trăm hoa rụng 
Xuân đến trăm hoa cười 
Trước mắt việc đi măi 
Trên đầu già đến rồi 
Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng hết 
Đêm qua sân trước một cành mai."
 
(Ngô Tất Tố dịch) 

Cuộc đời là một ḍng vô thường không ngừng biến chuyển theo thời gian. Tất cả mọi vật hiện hữu trong vũ trụ, hễ có sinh th́ có diệt; v́ vậy, với con người, sinh lăo bệnh tử là chuyện dĩ nhiên. Tuy nhiên, có một cái bởi không sinh nên không diệt. Đó chính là bản lai diện mục, là pháp gốc, là cái Tâm của mỗi người chúng ta. Cành mai trong bài kệ có thể không có thật ở chốn đ́nh tiền đêm năm ấy (dẫu có thật, rồi hoa cũng phải rụng rơi theo ngày tháng). Tuy nhiên, điều chúng ta biết chắc, cành mai ấy đă hiện hữu ở từng sát na trong mắt nh́n của thiền sư, đúng ra là ở trong tâm ngài. Cành mai ấy mọc bên ngoài ḍng sinh tử vô thường của thời gian và nở bên ngoài quy luật bể dâu của vũ trụ. 

Tâm hoa nếu đă nở th́ việc ǵ phải cậy đến mùa xuân. Mà thật ra, làm ǵ có mùa xuân. Chúng ta thấy xuân đến xuân đi chỉ v́ chúng ta đang sống trong vọng thức. 

Thấu đáo ẩn dụ của cành mai trong bài kệ, có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy an nhiên tự tại khi đối diện với sinh tử vô thường của tạo hóa, với được, thua, c̣n, mất của kiếp người. 

Câu Chuyện Thú Vị: Hoa Mai, Mai Nở Hoa, hay Tam Sao Thất Bản? 

Bàn về hoa mai, người viết chợt nhớ đến một chuyện khá lư thú. 

Khoảng 8 năm trước, người viết đọc được một câu chuyện do giáo sư Đỗ Quư Toàn kể trong tác phẩm "T́m Thơ Trong Tiếng Nói", Thanh Văn xuất bản năm 1992 tại California. Giáo sư chính là một trong những vị thày của người viết tại trường trung học Chu Văn An thuở trước. Ông hiện là chủ biên báo Người Việt tại California. 

Dưới tiểu đề "Khi mai hoa không phải là hoa mai", câu chuyện được giáo sư thuật lại như sau: 

"Xin kể thêm một kinh nghiệm riêng về đọc thơ để nói rơ hơn về tác động thi vị của cách ghép các từ và cách ngắt câu trong thơ. 

Trên một chuyến xe đ̣ Sài G̣n - Bà Rịa, tôi đọc lần đầu bài thơ "Thăm Chùa Thiền Tông" của Nguyễn Du. Hai câu thực (câu 3 và 4) làm tôi thích thú: 

Cổ-tự mai-hoa, hoàng diệp lư 
Tiên-triều tăng-lăo, bạch vân trung 


Tôi hiểu như thế này: 
Hoa mai ở ngôi chùa cổ, trong đám lá vàng 
Vị sư già triều trước, giữa cơi mây trắng
 

Tôi rất yêu những h́nh ảnh này. Thầy Châu Toàn đi cùng xe với tôi, một người rất nghệ sĩ, kể tôi nghe về ngôi chùa ở ngoại vi thành phố đó, nhưng không nói thêm ǵ về bài thơ. Mấy năm sau, thày đă mất, tôi với Châu Văn Thọ có dịp ra Huế, tôi tới chùa Thiền Tông đảnh lễ ngài ḥa thượng Giác Nhiên. Tôi bồi hồi tưởng nhớ thầy Châu Toàn, vào chánh điện t́m cái chuông thời Cảnh Hưng vẫn c̣n đó (Cảnh Hưng do quải cựu thời chung), nh́n mấy hàng chữ đề niên hiệu, mấy hàng chữ mà thế kỷ trước Nguyễn Du đă nh́n. Thật là cảm động. 

Trong ṿng hơn mười năm, tôi vẫn nhớ lại bài thơ, nhất là hai câu Thực. Ở Montreal tôi đọc cho Đinh Ngọc Mô nghe, cũng khoái trá. Chúng tôi đă thử cố dịch bài thơ đó mà chưa bao giờ hài ḷng. 

Cổ-tự mai-hoa, hoàng diệp lư 
Tiên-triều tăng-lăo, bạch vân trung 

Thế rồi một bữa Mô cho tôi biết cách tôi hiểu hai câu thơ đó là sai. Hắn đă đọc bài thơ cho một nhà nho nghe. Cụ Đàm đă trên 80 tuổi. Cụ bảo hai câu Thực phải đọc như thế này mới đúng: 

Cổ-tự-mai / hoa hoàng diệp lư 
Tiên-triều-tăng / lăo bạch vân trung
 
Chỗ ngắt câu là ở sau tiếng thứ ba, và trong hai câu đó, tiếng thứ tư là động từ chứ không phải danh từ. Cho nên phải hiểu như sau: 

Cây mai ở ngôi chùa cổ nở hoa trong đám lá vàng 
Vị sư triều đại trước già đi giữa cơi mây trắng 

Lúc đó cả một thế giới bị đảo lộn. Chắc sẽ phải thăm chùa Thiền Tông lần nữa, đứng đó khấn vái, tạ tội với hương hồn cụ Nguyễn Du. Thế ra con người tài t́nh đó đă tặng cho tôi một bảo vật, mà tôi chỉ chờn vờn ngắm nghía cái vỏ đựng bên ngoài. Như sờ mó một ḥn đá mà không biết bên trong c̣n có ngọc. Vậy ra hoa mai không phải là cây hoa mai, mà cây mai nở hoa. Tăng lăo không phải là ông già đi tu mà là vị sư ngả tuổi già. Thay đổi một chỗ ngắt câu, đổi danh từ thành động từ, cả bài thơ bỗng chuyển hóa! Không gian biến thành thời gian. Tĩnh hóa thành động. H́nh ảnh đang đứng yên bỗng rung chuyển. Cái nỗi phù du của con người, của triều đại chính trị càng thêm thấm thía. Một câu thơ bỗng nối dài bao ṿng xoay của trái đất quanh mặt trời. Nếu nh́n từ cơi biến đổi, th́ mái tóc đang nhuốm bạc kia là lớp lớp biển dâu. C̣n như nếu nh́n bằng con mắt bất biến th́ hoa mai năm năm vẫn cứ nở trong cơi lá ngả vàng, có khác chi đâu? Không dùng danh từ mà dùng động từ, Nguyễn Du chẳng cần dùng nhiều lời hùng biện như Tô Đông Pha (Tự kỳ biến giả nhi quán chi ... tự kỳ bất biến giả nhi quán chi ...). 

Thơ của cổ nhân xúc tích và uyên ảo, đọc mà không đủ thanh tịnh th́ không cảm thấy được bao t́nh ư, h́nh ảnh, thật là có tội. Khi đọc "mai hoa" ḿnh đă dùng cái khuôn sáo thông tục hằng ngày để hiểu là hoa mai. Cái thói quen ăn xổi ở th́ khi dùng ngôn ngữ đă thành cố tật. Thật là có tội." 

Câu chuyện giáo sư kể thật lư thú và cảm động. Người viết đă nhiều lần thuật lại câu chuyện này cho các bằng hữu trong những buổi mạn đàm về thi ca. "Mai nở hoa trong đám lá vàng". Mai hoa đâu đă chắc là hoa mai. Hay, hay thật! 

Cho đến một hôm. 

Cuối năm 1999, người viết được một bằng hữu từ Việt Nam gửi tặng tuyển tập "192 Bài Thơ Chữ Hán của Tiên Điền Nguyễn Du", do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1996 tại Hà Nội. Trong số những bài thơ này có bài "Vọng Thiên Thai Tự" thuộc tập Nam Trung Tạp Ngâm, tức bài thơ giáo sư Toàn đă đề cập ở trên. Đọc bài thơ, người viết bỗng ngạc nhiên khi thấy trong hai câu Thực, câu đầu không giống như câu giáo sư đă nhắc đến mà là:

Cổ tự / thu mai hoàng diệp lư 
Tiên triều / tăng lăo bạch vân trung
 
Chữ "mai" trong câu này không phải là hoa mai nhưng là động từ "chôn", "vùi" như mai trong các câu thành ngữ "mai ngọc trầm châu" và "mai danh ẩn tích". C̣n "thu" chính là mùa thu. Như vậy, hai câu thực của bài mang ư nghĩa: 

Ngôi chùa cổ bị mùa thu vùi trong đám lá vàng 
Triều vua trước vị sư già đi giữa áng mây trắng
 

Trên căn bản lư luận, "thu mai " hợp lư hơn "mai hoa", v́ cụ Nguyễn Du làm bài thơ từ một khoảng cách khá xa chùa. Khi "hướng trông lên Thiên Thai Tự" (tên bài thơ), cụ trông thấy chùa như đang bị vùi dưới những tàn lá vàng mùa thu, một h́nh ảnh thật đẹp mắt. Dĩ nhiên, từ khoảng cách ấy, chắc chắn cụ không thể thấy được những đóa mai đang nở hoa trong đám lá vàng. 

Sau khi đọc bài thơ in trong tuyển tập, người viết đă cố công t́m được vài tài liệu khác và bản nào cũng ghi là "thu mai" chứ không phải "mai hoa" như bản giáo sư Toàn đă đọc trên chuyến xe đ̣ thuở trước. Nguyên văn bài thơ như sau: 

Vọng Thiên Thai Tự 

Thiên thai sơn tại đế thành đông 
Cách nhất điều giang tự bất thông 
Cổ tự thu mai hoàng diệp lư 
Tiên triều tăng lăo bạch vân trung 
Khả liên bạch phát cung khu dịch 
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung 
Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo 
Cảnh Hưng do quải cựu thời chung
 

Nh́n Lên Chùa Thiên Thai 

Núi Thiên Thai nằm phía cuối thành đông 
Cách một nhánh sông nhỏ, tưởng chừng chẳng có lối sang 
Ngôi chùa cổ (ở đó) bị mùa thu vùi trong đám lá vàng 
Triều vua trước vị sư già đi giữa áng mây trắng 
Thương thay (cho ḿnh) tóc đă bạc mà c̣n phải làm lụng vất vả 
Chẳng thể cùng với non xanh giữ vẹn nghĩa thủy chung 
Nhớ năm trước (ta) đă từng đến đấy 
C̣n trông thấy chiếc chuông cổ đúc từ thời Cảnh Hưng 


Chùa Thiền Tôn, hay Thuyền Tôn, hiện tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xă Thúy An, thành phố Huế. Chùa được xây vào đầu thế kỷ 18 và nằm bên trái núi Thiên Thai nên c̣n được gọi là Thiên Thai Tự. 

Đọc xong bài thơ, người viết bỗng có cảm tưởng hụt hẫng như bị mất một điều ǵ. Tại sao là "thu mai" mà không phải "mai hoa". Câu chuyện giáo sư Toàn kể đă hay về văn chương mà lại độc đáo về "thiền". Những đóa mai nở sớm khi đám lá vàng chung quanh (dĩ nhiên không phải lá của mai) c̣n dùng dằng chưa rơi rụng. Đọc câu thơ mà tưởng chừng nghe được tiếng chuyển động của những cánh hoa đang khai nở và cảm được mùi hương thanh khiết từ nhụy hoa nhẹ thoảng ra. Bỗng dưng bây giờ những đóa mai ấy biến mất. Thế có đáng giận không hở cụ Tiên Điền? 

Dù sao đi nữa, nếu có cơ hội trở lại thăm chùa Thiền Tôn, có lẽ vị thày khả kính của người viết sẽ phải khấn vái tạ tội với cụ Tiên Điền. Không phải chỉ tạ tội một lần như thày từng phát nguyện, mà phải tạ đến hai lần v́ suốt hai mươi mấy năm trời đă cả tin vào một câu thơ tam sao thất bản. 

ooOoo 

Lại thêm một mùa xuân về trên đất khách. 

Cộng chỉ mai hoa báo tiêu tức 
Xuân tằng hà đáo dị hương nhân
 
(Nguyễn Du) 

Cùng nhau chỉ hoa mai báo tin xuân 
Nhưng xuân có bao giờ đến với người nơi đất khách
 

Phải chăng hai câu thơ nêu trên chính là tâm trạng chúng ta mỗi khi chứng kiến cảnh xuân trên xứ nguời? Có cố công t́m một nhánh (gọi là) mai, mang về cắm trong chiếc độc b́nh bầy giữa nhà cũng chỉ là để níu kéo một chút hương thừa xuân năm cũ. 

Đến xuân năm nay, t́nh cờ đọc được bài thơ của một ni sư đời nhà Tống, người viết hốt nhiên bừng tỉnh ngộ: 

Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân 
Mang hài đạp phá lănh đầu vân 
Quy lai khước quá mai hoa hạ 
Xuân tại chi đầu dĩ thập phân 


Ni sư đi hài cỏ trèo đèo vượt núi, cực khổ t́m Xuân suốt ngày mà vẫn chẳng gặp Xuân. Đến khi trở về mới thấy Xuân đang hiện trên những cành mai trong vườn nhà. 

Ni sư nói bóng nói gió đấy thôi, làm ǵ có mai trong vườn nhà. Cành mai đang đơm nụ báo tin xuân ấy là cành mai trong Tâm của ni sư. Đó cũng chính là cành mai của thiền sư Măn Giác thuở xưa, và là cành mai đang chờ khai nở trong tâm chúng ta. 

Thoát cái, đă 29 năm đăng đẳng trôi qua kể từ tang thương buổi ấy. Ngần ấy năm hứng chịu "lửa táp, gió lùa, nước ngâm thân" và "sương như búa, tuyết như cưa, khắc vết hằn", cành mai hẳn đă sẵn sàng đơm hoa kết nụ? 

"Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương". 


Nguyễn Ngọc Bảo